-- 4 of 8 --
5
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025.
[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa, người khởi kiện, người
bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T5, ông Hứa
Đình C có đơn xin xét xử vắng mặt; người đại diện theo ủy quyền của người
khởi kiện chị Nguyễn Thị S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn
T3, anh Nguyễn Duy T4 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý
do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 157 và Điều 158 Luật Tố tụng
hành chính tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.
[1.3]. Về thời hiệu khởi kiện: ngày 04/10/2024, Trưởng Công an huyện N
ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPHC. Ngày
21/3/2025, anh T nộp đơn khởi tại Tòa án nhân huyện Q cũ. Tòa án nhân dân
huyện Quế Sơn cũ chuyển đến Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam cũ vào ngày
18/6/2025. Ngày 30/6/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam cũ chuyển đơn
cho Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền
là đảm bảo thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành
chính.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện:
[2.1]. Về trình tự, thủ tục ban hành quyết định:
Ngày 17/7/2024, ông Nguyễn Văn T5 có đơn báo cáo về việc ông T3, anh
T4, anh T và ông C có hành vi hủy hoại tài sản của ông T5. Tiếp nhận tin báo,
Công an xã N đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ: triệu tập những người trên
để làm việc, lấy lời khai, chụp ảnh hiện trường...Khi thấy có dấu hiệu tội phạm,
Công an xã N đã có Phiếu chuyển nguồn tin về tội phạm số 03/PC-CAX ngày
23/7/2024 cho Cơ quan điều tra công an huyện N cũ. Sau khi tiếp nhận, Cơ quan
điều tra công an huyện N cũ đã tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu về nhân
thân, xác định chủ sở hữu tài sản, yêu cầu định giá tài sản. Nhận được kết luận
định giá tài sản số 10/KL-ĐGTS ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng hình sự huyện N, đối chiếu với quy định của Bộ luật Hình sự, Cơ
quan điều tra ban hành Quyết định không khởi tố vụ án số 207/QĐ-ĐTTH ngày
19/9/2024 và chuyển hồ sơ xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định tại khoản
1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020
và Điều 21
Thông tư 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/20260 của bộ C1 về trình tự,
thủ tục tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đúng quy định tại khoản
3 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020.
[2.2]. Về thẩm quyền ban hành quyết định:
Căn cứ khoản 4 Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa
đổi bổ sung năm 2020 và khoản 4 Điều 69
Nghị định 144/2021/Đ-CP ngày
31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa
cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình, người có thẩm quyền xử
-- 5 of 8 --
6
phạt là Trưởng Công an huyện. Căn cứ vào Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành
chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 và Điều 10 Nghị Định 118/2021/Đ-
CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều và biện pháp
thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Trưởng Công an huyện N đã ban hành
Quyết định số 1397/QĐ-CAH (TM) ngày 27/9/2024 về việc giao quyền xử phạt
vi phạm hành chính cho ông Đỗ Viết H – Phó Trưởng Công an huyện. Vì vậy,
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPHC ngày 04/10/2024 của
Trưởng Công an huyện N cũ do ông Đỗ Viết H – Phó Trưởng công an huyện ký
là đúng thẩm quyền.
[2.3]. Xét yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-
XPHC ngày 04/10/2024 của Trưởng Công an huyện N thì thấy:
- Về hành vi: tại các biên bản làm việc ông T3, ông C, anh T, anh T4 đều
thừa nhận vào ngày 29/6/2024, ông T3, anh T4, anh T và ông C đem theo công
cụ gồm: búa, máy cắt gạch, máy khoan đến nhà của ông T5. Lúc này, ông T5
không có mặt ở nhà, chỉ có cháu của ông T5 ở nhà. Đến nhà của ông T5, ông
T3, anh T4, anh T và ông C sử dụng dây ni lông giăng để xác định ranh giới
ngay tại nhà của ông T5. Giăng xong, ông T3 ngồi phía trước nhà chỉ đạo và yêu
cầu con trai mình và ông C tiến hành tháo dỡ, đập phá tài sản nhà ông T5 theo
dấu đã giăng dây. Anh T leo lên mái nhà dưới, anh T4 và ông C ở dưới đất, anh
T dùng máy khoan tháo dỡ đinh, đưa tôn xuống cho anh T4 và ông C xếp tôn để
bên hông nhà. Tiếp đến, anh T4 dùng máy cắt gạch cắt theo dấu đã đo trước đó.
Cắt xong, ông C dùng búa đập phá tường gạch, làm mảng tường bên hông bể vỡ
hư hỏng hoàn toàn. Sau khi đập phá tài sản của ông T5 xong, tất cả về nhà. Đến
chiều, những người trên quay lại dùng xi măng để đổ sáu trụ bê tông ngay trên
mảnh đất đã tháo dỡ trước đó. Tại bản tự khai ngày 21/7/2024, anh T trình bày:
“qua việc tham gia tháo dỡ đập phá nhà của ông T5, tôi nhận thấy việc làm như
trên là sai, vi phạm pháp luật”.
- Về hậu quả: tài sản thiệt hại gồm 07 tấm tôn bị tháo dỡ gồm 05 tấm có
kích thước 4,1 mét x 1,1 mét và 02 tấm có kích thước 2,4 mét x 1,1 mét, tường
gạch bị đập phá khoảng 06 m2. Theo kết luận định giá số 10/KL-ĐGTS ngày
04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N xác định
giá trị thiệt hại là 1.844.500 đồng.
Việc anh T cho rằng tranh chấp giữa gia đình anh và ông T5 là tranh chấp dân
sự. Tuy nhiên, ông T3, anh T4, anh T không tiến hành khởi kiện tranh chấp dân
sự tại Tòa án có thẩm quyền, mà tự ý tháo dỡ tôn, phá tường nhà của ông T5 đã
xâm phạm đến quyền quản lý, sử dụng tài sản hợp pháp của ông T5. Ông T3,
anh T4, anh T và ông C nhận thức rõ hành vi của mình gây thiệt hại đến tài sản
của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. Giá trị tài sản thiệt hại là 1.844.500
đồng, dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật
Hình sự năm 2015; đồng thời ông T3, anh T4, anh T và ông C không có tiền án,
tiền sự về hành vi chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản, nên hành vi trên chưa đủ
yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định của Bộ luật Hình
sự. Tuy nhiên, hành vi nêu trên đã đủ yếu tố xử lý vi phạm hành chính “Cố ý
-- 6 of 8 --
7
làm hư hỏng tài sản” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15
Nghị định
144/2021/Đ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội;
phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Do đó,
Trưởng công an huyện N áp dụng khoản 2 Điều 15
Nghị định 144/2021/Đ-CP
ngày 31/12/2021 để xử phạt anh T là đúng với tính chất, mức độ, hậu quả do
hành vi vi phạm pháp luật gây ra.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 39,
các Điều 54, 56, 57 và 58; khoản 1, khoản 3 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành
chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; điểm a khoản 2 Điều 15 và khoản 4