b) Hợp đồng chưa được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa phải thực hiện
quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp
đồng mà pháp luật có quy định.
Hợp đồng chưa được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ
luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn
bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm
2015 để giải quyết; trường hợp lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ
luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005,
Nghị
quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật
Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ
luật Dân sự năm 2005 để giải quyết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc
-- 2 of 12 --
4 CÔNG BÁO/Số 253 + 254/Ngày 03-3-2019
sửa đổi, bổ sung về lãi, lãi suất phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 và để áp
dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
c) Hợp đồng đang được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa thực hiện xong
quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp
đồng mà pháp luật có quy định.
Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định
của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005,
Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ
luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng
Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.
Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ
luật Dân sự năm 2015 thì việc áp dụng pháp luật để xác định lãi, lãi suất như sau:
Đối với khoảng thời gian trước ngày 01-01-2006 thì áp dụng quy định của Bộ
luật Dân sự năm 1995, Nghị quyết ngày 28-10-1995 của Quốc hội về việc thi hành
Bộ luật Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật
Dân sự năm 1995.
Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017 thì
áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005,
Nghị quyết số 45/2005/QH11
ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy
phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005.
Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật
Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp
dụng Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ví dụ 2: Ngày 01-01-2003, ông A cho bà B vay 100.000.000 đồng (hợp đồng
vay không kỳ hạn), lãi suất thỏa thuận là 18%/năm. Ngày 01-01-2018, ông A khởi
kiện yêu cầu bà B trả gốc và lãi theo hợp đồng. Trường hợp này, từ ngày 01-01-2003
đến trước ngày 01-01-2006, Tòa án áp dụng Điều 473 của Bộ luật Dân sự năm
1995 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm
1995 để xác định lãi, lãi suất; từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017,
Tòa án áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi, lãi suất;
-- 3 of 12 --
CÔNG BÁO/Số 253 + 254/Ngày 03-3-2019 5
kể từ ngày 01-01-2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm, Tòa án áp dụng Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
2. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập kể từ
ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định về lãi, lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2015
và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân
sự năm 2015 để giải quyết.
3. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng có lãi, lãi suất phù
hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hướng dẫn tại khoản 1 Điều này
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại