CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2026/LĐ-ST ngày 12/01/2026 về việc “tranh chấp hợp đồng lao động”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXST-LĐ ngày 02 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15- thành phố Hồ Chí Minh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
+ Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, ngày 01/4/2026, bà P có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc huỷ kết quả đóng bảo hiểm xã hội bị trùng từ tháng 11/2006 đến tháng 3/2007 tại Công ty TNHH O1 theo sổ bảo hiểm số 9106210733 cấp cho bà Châu Ngọc P vì yêu cầu này bà P sẽ đề nghị bên bảo hiểm xã hội giải quyết; việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, đề nghị Hội đông xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Châu Ngọc P về việc yêu cầu tuyên hợp đồng lao động giữa bà P và Công ty TNHH O1 (từ tháng 11/2006 đến tháng 3/2007) vô hiệu.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Châu Ngọc P khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Châu Ngọc P (do bà Nguyễn Ngọc H là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH O1 trong khoảng thời gian làm từ tháng 11/2006 đến tháng 3/2007 là vô hiệu toàn bộ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp về hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH O1 có trụ sở: Đường Đ, ấp P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 01/4/2026, bà P có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc huỷ kết quả đóng bảo hiểm xã hội bị trùng từ tháng 11/2006 đến tháng 3/2007 tại Công ty TNHH O1 theo sổ bảo hiểm số 9106210733 cấp cho bà Châu Ngọc P vì yêu cầu này bà P sẽ đề nghị bên bảo hiểm xã hội giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[1.3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Châu Ngọc P; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Dương Thị Tú O; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc H và người đại diện theo pháp luật của Bảo hiểm xã hội cơ sở B có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của nguyên đơn, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thể hiện: Vào tháng 11 năm 2006, Công ty TNHH O1 và bà Châu Ngọc P (thực tế bà Nguyễn Ngọc H) có ký hợp đồng lao động). Bà H làm việc tại Công ty từ tháng 11 năm 2006; đến tháng 3 năm 2007, công ty có quyết định sa thải. Thời gian bà H làm việc tại Công ty TNHH O1, công ty đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đầy đủ. Khi bà H đến Công ty TNHH O1 làm việc, hồ sơ thể hiện tên người xin việc là bà Châu Ngọc P do đó toàn bộ hồ sơ tại công ty liên quan đến người lao động làm việc cho Công ty TNHH O1 đều thể hiện tên bà P, vì vậy hàng tháng công ty đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đều có tên Châu Ngọc P mà không phải là Nguyễn Ngọc H. Xét, sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Căn cứ vào trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy Nguyễn Ngọc H sử dụng hồ sơ cá nhân của bà Châu Ngọc P để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH O1 từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007, là không đúng chủ thể xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động được quy định tại Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 1994 (nay là Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019). Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 132 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (nay là Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015) xét thấy, yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động người lao động tên Châu Ngọc P và Công ty TNHH O1 từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007 là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Do đương sự chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và không có yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
[2.4] Đối với quyền lợi của bà H do không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty TNHH O1 phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, các Điều: 227, 228, 235, 238, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 (nay là Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019); các Điều: 49, 50 và Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 132 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (nay là Điều 127 của Bộ luật Dân sự năm 2015);
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Châu Ngọc P đối với bị đơn Công ty TNHH O1 về việc yêu cầu huỷ kết quả đóng bảo hiểm xã hội bị trùng từ tháng 11/2006 đến tháng 3/2007 tại Công ty TNHH O1 theo sổ bảo hiểm số 9106210733 cấp cho bà Châu Ngọc P.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Châu Ngọc P đối với bị đơn Công ty TNHH O1 về việc tranh chấp hợp đồng lao động.
Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa bà Châu Ngọc P và Công ty TNHH O1 từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007 bị vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH O1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.