Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 7. Thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện
pháp khắc phục hậu quả
1. Việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp
khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này được thực hiện theo quy định
của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành.
-- 5 of 99 --
CÔNG BÁO/Số 243/Ngày 22-04-2026 7
2. Trong trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại
các giấy phép, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm thay đổi nội dung thì thực hiện
như sau:
a) Người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tổ
chức, cá nhân vi phạm có trách nhiệm thi hành biện pháp khắc phục hậu quả
buộc nộp lại các giấy phép, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm thay đổi nội dung
thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 85 Luật Xử lý vi phạm
hành chính;
b) Tổ chức, cá nhân vi phạm có trách nhiệm nộp trực tiếp hoặc qua đường
bưu điện các giấy phép, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm thay đổi nội dung cho
cơ quan có thẩm quyền cấp đã cấp các giấy phép, văn bản đó và gửi biên lai
hoặc tài liệu chứng minh đã nộp giấy phép, văn bản cho người có thẩm quyền
ra quyết định thi hành biện pháp khắc phục hậu quả tại khoản này;
c) Người có thẩm quyền ra quyết định thi hành biện pháp khắc phục hậu
quả theo quy định tại khoản này phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan,
người có thẩm quyền đã cấp các giấy phép, văn bản đó.
3. Trong trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc xin lỗi tổ
chức, cá nhân bằng văn bản thì thực hiện như sau:
a) Người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tổ
chức, cá nhân vi phạm có trách nhiệm thi hành biện pháp khắc phục hậu quả
buộc xin lỗi tổ chức, cá nhân bằng văn bản thực hiện theo quy định tại các
khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 85 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
b) Tổ chức, cá nhân vi phạm có trách nhiệm gửi văn bản xin lỗi cho tổ
chức, cá nhân được xin lỗi và cho người có thẩm quyền ra quyết định thi hành
biện pháp khắc phục hậu quả tại khoản này.
4. Trong trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại
số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm thì thực hiện như sau:
a) Số lợi bất hợp pháp là số lợi được tính thành tiền do tổ chức, cá nhân
thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo có
sau vi phạm và phải nộp vào ngân sách nhà nước. Trường hợp hành vi vi phạm
do nhiều tổ chức, cá nhân cùng thực hiện thì số lợi bất hợp pháp phải thu được
chia đều cho các tổ chức, cá nhân cùng vi phạm;
b) Số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính
theo quy định tại Nghị định này là vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc tài sản khác có
được từ vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện và được xác
định như sau:
-- 6 of 99 --
CÔNG BÁO/Số 243/Ngày 22-04-2026 8
Số lợi bất hợp pháp thu được bằng tiền là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân
thu được từ hành vi vi phạm hành chính và được tính bằng số tiền thu được từ
việc chuyển nhượng, tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ vi phạm sau khi đã
trừ chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa, dịch vụ căn cứ vào hồ sơ, chứng từ
chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó do cá nhân, tổ chức vi
phạm cung cấp; trường hợp chuyển nhượng, tiêu thụ hàng cấm, hàng giả, hàng
hóa nhập lậu hoặc cung cấp dịch vụ kinh doanh có điều kiện thì số lợi bất hợp
pháp thu được bằng tiền là toàn bộ số tiền cá nhân, tổ chức thu được từ việc
chuyển nhượng, tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ đó.
Số lợi bất hợp pháp thu được bằng giấy tờ có giá là toàn bộ giấy tờ có giá
mà tổ chức, cá nhân vi phạm thu được từ hành vi vi phạm hành chính. Trường
hợp giấy tờ có giá đã được chuyển nhượng thì số lợi bất hợp pháp được xác
định bằng số tiền thực tế thu được tại thời điểm chuyển nhượng; trường hợp
giấy tờ có giá đã bị tẩu tán, tiêu hủy thì số lợi bất hợp pháp được xác định theo
giá trị sổ sách của tổ chức phát hành giấy tờ có giá tại thời điểm tẩu tán, tiêu hủy.
Số lợi bất hợp pháp là vật, tài sản khác mà tổ chức, cá nhân vi phạm thu
được từ hành vi vi phạm hành chính là các tài sản khác theo quy định của Bộ
luật Dân sự.
Trường hợp vật, tài sản khác không phải hàng cấm, hàng giả, hàng hóa
nhập lậu đã được chuyển nhượng, tiêu thụ hoặc tiêu hủy thì số lợi bất hợp pháp
được xác định bằng số tiền tương đương giá trị thị trường của tài sản cùng loại
hoặc xác định theo giá trị sổ sách của tài sản (nếu không có giá trị thị trường)
hoặc xác định bằng giá trị tiền của tài sản ghi trên tờ khai xuất khẩu, tờ khai
nhập khẩu (nếu là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu) của tổ chức, cá nhân vi phạm
sau khi trừ chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa căn cứ vào hồ sơ, chứng từ
chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó.
Trường hợp vật, tài sản khác là hàng cấm, hàng giả, hàng hóa nhập lậu đã
được chuyển nhượng, tiêu thụ thì số lợi bất hợp pháp được xác định là tổng số
tiền mà tổ chức, cá nhân nhận được khi thực hiện chuyển nhượng.