Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 2. Giải thích từ ngữ
1. Hoạt động thanh tra trong Tòa án nhân dân là việc xem xét, đánh giá, kết
luận, kiến nghị xử lý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của
các Tòa án, đơn vị, cá nhân trong Tòa án nhân dân nhằm phòng ngừa, phát hiện và
xử lý hành vi vi phạm pháp luật.
2. Hoạt động kiểm tra trong Tòa án nhân dân là việc xem xét, đánh giá của
Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân
tối cao trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao của các Tòa án, đơn vị, cá
nhân thuộc phạm vi quản lý nhằm phát hiện, chấn chỉnh, nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật; phòng ngừa, ngăn chặn hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý
vi phạm.
3. Đối tượng thanh tra, kiểm tra là các Tòa án, đơn vị, cá nhân chịu sự thanh
tra, kiểm tra được xác định trong quyết định thanh tra, kiểm tra và kế hoạch tiến
hành thanh tra, kiểm tra.
4. Người tiến hành thanh tra là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao, Trưởng đoàn
thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra.
5. Người tiến hành kiểm tra là Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, Chánh
Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân
tối cao, Trưởng đoàn kiểm tra, thành viên Đoàn kiểm tra.
6. Định hướng Chương trình thanh tra, kiểm tra hằng năm là văn bản xác định
phương hướng và trọng tâm hoạt động thanh tra, kiểm tra của Tòa án nhân dân
trong 01 năm, từ ngày 01 tháng 10 của năm trước đến ngày 30 tháng 9 của năm
sau, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt theo đề nghị của Chánh
Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao.
Định hướng Chương trình thanh tra là việc xác định nhiệm vụ thanh tra trên cơ
sở đánh giá chất lượng công tác của các Tòa án, đơn vị, cá nhân còn tồn tại, hạn
chế; tình hình khiếu nại, tố cáo; vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm để xảy ra nhiều thiếu sót, vi phạm.
-- 2 of 85 --
CÔNG BÁO/Số 1599 + 1600/Ngày 21-11-2025 9
Định hướng Chương trình kiểm tra là việc xác định nhiệm vụ kiểm tra thường
xuyên trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của các Tòa án, đơn
vị, cá nhân.
7. Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm là văn bản xác định nhiệm vụ chủ
yếu về thanh tra, kiểm tra trong 01 năm, từ ngày 01 tháng 10 của năm trước đến
ngày 30 tháng 9 năm sau do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh ban hành để thực hiện định hướng Chương trình thanh tra, kiểm
tra và phục vụ yêu cầu quản lý Tòa án nhân dân.
8. Kế hoạch tiến hành thanh tra, kiểm tra là văn bản xác định cụ thể nội dung,
đối tượng, thời kỳ, thời gian và cách thức tổ chức thực hiện một cuộc thanh tra,
kiểm tra do Trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra xây dựng, được người ra quyết định
thanh tra, kiểm tra phê duyệt.
9. Thanh tra, kiểm tra trực tuyến, từ xa là hình thức được thực hiện thông qua
phương tiện điện tử, dựa trên cơ sở dữ liệu số của ngành Tòa án, cùng thông tin, tài
liệu điện tử do đối tượng thanh tra, kiểm tra cung cấp hoặc được thu thập từ cơ
quan, đơn vị liên quan. Hồ sơ, biên bản, kết luận được lập, ký số và lưu trữ dưới
dạng điện tử có giá trị pháp lý tương đương văn bản giấy và phải được bảo đảm an
toàn, bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật.
Thanh tra, kiểm tra trực tuyến là hình thức thực hiện đồng thời, có tương tác
trực tiếp qua nền tảng số theo thời gian thực.
Thanh tra, kiểm tra từ xa là hình thức không đồng bộ, chủ yếu dựa trên việc
thu thập, phân tích hồ sơ, tài liệu điện tử mà không cần sự tham gia đồng thời của
các bên.
10. Tự kiểm tra là việc đối tượng kiểm tra tự tiến hành kiểm tra và báo cáo kết
quả tự kiểm tra bằng văn bản đến người có thẩm quyền ra quyết định kiểm tra.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 3. Nguyên tắc hoạt động thanh tra, kiểm tra
1. Bảo đảm tuân thủ quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Thanh
tra và các văn bản pháp luật có liên quan.
2. Không gây cản trở việc giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc của Tòa án nhân
dân theo quy định của pháp luật; không thanh tra, kiểm tra Thẩm phán, Hội thẩm
về việc xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc đang trong quá trình tố tụng, trừ trường hợp
-- 3 of 85 --
CÔNG BÁO/Số 1599 + 1600/Ngày 21-11-2025 10
Thẩm phán, Hội thẩm có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong xét xử, giải quyết vụ án,
vụ việc đó, nhưng vẫn bảo đảm tính độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
3. Thực hiện đúng thẩm quyền, nội dung, yêu cầu thực tế và đáp ứng mục tiêu
quản lý việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân.
4. Bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các mặt công tác có hạn
chế, yếu kém; các lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
hoặc các Tòa án, đơn vị, cá nhân có nhiều khiếu nại, tố cáo, dư luận phản ánh.
5. Bảo đảm phối hợp chặt chẽ giữa các Tòa án trong thực hiện hoạt động thanh
tra, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp.
6. Chỉ thực hiện thanh tra, kiểm tra khi có kế hoạch đã được phê duyệt hoặc
theo yêu cầu đột xuất của người có thẩm quyền quyết định thanh tra, kiểm tra theo
quy định tại Thông tư này. Khi thực hiện thanh tra, kiểm tra, người ra quyết định
thanh tra, kiểm tra phải chỉ đạo thực hiện kịp thời, hiệu quả, tránh hình thức;
trường hợp cần thiết có thể rút hồ sơ vụ việc để xem xét toàn diện và có kết luận
chính xác, đúng pháp luật.
7. Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đơn vị, cá nhân
có liên quan.
8. Mỗi đối tượng thanh tra, kiểm tra được thanh tra, kiểm tra 01 năm 01 lần
theo kế hoạch hằng năm, trừ trường hợp theo yêu cầu công tác quản lý của lãnh
đạo Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Tại Tòa án nhân dân tối cao, việc tiến hành
kiểm tra nội dung tại khoản 1 Điều 6 của Thông tư này thực hiện như sau:
a) Các Vụ Giám đốc, kiểm tra thực hiện kiểm tra nghiệp vụ đối với tất cả các
đối tượng kiểm tra;
b) Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao thực hiện kiểm tra nghiệp vụ theo chỉ đạo
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc chương trình, kế hoạch đã được phê
duyệt bảo đảm tối đa bằng 20% số Tòa án cấp tỉnh trừ đối tượng quy định tại điểm a
khoản này.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 8. Ban hành Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm
1. Chậm nhất là ngày 30 tháng 11 hằng năm, Chánh Thanh tra Tòa án nhân
dân tối cao trình Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký, ban hành kế hoạch thanh
tra, kiểm tra hằng năm; chậm nhất là ngày 10 tháng 12 hằng năm, Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh ban hành kế hoạch thanh tra, kiểm tra của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh; chậm nhất là ngày 20 tháng 12 hằng năm, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực
ban hành kế hoạch kiểm tra của Tòa án nhân dân khu vực.
2. Việc xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm phải căn cứ vào định
hướng Chương trình thanh tra, kiểm tra, nội dung kế hoạch phải bao gồm nội dung
thanh tra, kiểm tra để bảo đảm sự đồng bộ, tập trung và thực hiện như sau:
a) Trước khi trình Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành kế hoạch
thanh tra, kiểm tra hằng năm, Chánh Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao phải báo
cáo Phó Chánh án phụ trách xem xét, cho ý kiến.
Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao xây dựng kế hoạch kiểm
tra thuộc lĩnh vực công tác được phân công gửi Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao
chậm nhất là ngày 15 tháng 11 hằng năm để tổng hợp, xây dựng kế hoạch kiểm tra
của Tòa án nhân dân tối cao;
b) Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, kế
hoạch kiểm tra hằng năm của Tòa án nhân dân khu vực phải căn cứ vào tình hình
thực tế của địa phương.
3. Nội dung kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm bao gồm: mục đích, yêu
cầu; nội dung thanh tra, kiểm tra; đối tượng thanh tra, kiểm tra; thời gian tiến
hành thanh tra, kiểm tra; phương thức tiến hành thanh tra, kiểm tra và tổ chức
thực hiện.
Nội dung cuộc thanh tra có thể gắn thanh tra công vụ với kiểm tra nghiệp vụ;
cần chú trọng vào những lĩnh vực hoạt động có nhiều tồn tại, hạn chế, dễ phát sinh
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
-- 7 of 85 --
CÔNG BÁO/Số 1599 + 1600/Ngày 21-11-2025 14
Việc tiến hành thanh tra, kiểm tra được thực hiện theo thời gian dự kiến nêu tại
kế hoạch thanh tra, kiểm tra, trừ trường hợp khác theo chỉ đạo của Chánh án Tòa
án nhân dân có thẩm quyền quyết định.
4. Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm của Tòa án nhân dân tối cao phải
xác định cụ thể về nội dung, đối tượng kiểm tra quy định tại khoản 1 Điều 6 của
Thông tư này do Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao và các Vụ Giám đốc, kiểm tra
thực hiện.
5. Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm phải được gửi như sau:
a) Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm của Tòa án nhân dân tối cao phải gửi
cho các Tòa án nhân dân cấp tỉnh; đối tượng thanh tra, kiểm tra, cơ quan, đơn vị có
liên quan và được đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao;
b) Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải
gửi cho Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao);
đối tượng thanh tra, kiểm tra; cơ quan, đơn vị có liên quan; đăng trên Cổng thông
tin điện tử Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
c) Kế hoạch kiểm tra hằng năm của Tòa án nhân dân khu vực phải gửi cho Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Thanh tra Tòa án nhân
dân tối cao) và đối tượng kiểm tra, cơ quan, đơn vị có liên quan.