CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc16/2026/QĐST – DS ngày 13 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Khi vay tiền thì hai bên thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng. Tuy nhiên, khi làm đơn khởi kiện
bà tính lãi theo mức lãi suất theo quy định của pháp luật là 1,66%/tháng. Số tiền mà bà T nợ
bà tính đến ngày làm đơn khởi kiện là 92.490.000đ (Chín mươi hai triệu bốn trăm mươi
ngàn đồng), trong đó, nợ gốc là 57.600.000đ, nợ lãi là 35.340.000đ. Do bà T đã trả được
23.000.000đ tiền lãi suất, nên bà khởi kiện yêu cầu bà T tiếp tục trả số tiền là 69.490.000đ
(Sáu mươi chín triệu bốn trăm chín mươi ngàn đồng), bao gồm: Nợ gốc là 57.600.000đ, nợ
2
lãi tính đến ngày khởi kiện là 11.890.000đ. Tiếp tục tính lãi suất 1,66%/tháng đối với số nợ
gốc cho đến khi trả xong nợ.
Tính đến ngày xét xử bà T còn nợ bà số tiền là 75.210.000đ (Bảy mươi lăm triệu hai trăm
mười ngàn đồng), bao gồm: Nợ gốc là 57.600.000đ, nợ lãi là 17.610.000đ. Bà yêu cầu Tòa
án buộc bà T phải trả số tiền nợ trên và tiếp tục phải chịu lãi suất 1,66%/tháng đối với số nợ
gốc cho đến khi trả xong nợ.
* Quá trình giải quyết vụ án bà Đặng Thị T vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án hợp
lệ nhiều lần.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa đã
phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Các đương sự chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương
sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn thực hiện đúng quy
định của pháp luật quy định tại các Điều 70,71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía bị đơn thực
hiện không đúng quy định của pháp luật quy định tại các Điều 70,72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng các Điều 463, 468 Bộ luật dân sự. Đề nghị HĐXX chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Đặng Thị T phải trả cho bà Hoàng Thị H
75.210.000đ (Bảy mươi lăm triệu hai trăm mười ngàn đồng), bao gồm: Nợ gốc là
57.600.000đ, nợ lãi là 17.610.000đ.
Bà Đặng Thị T tiếp tục phải chịu lãi suất 1,66%/tháng đối với số nợ gốc, kể từ ngày
06/5/2026 cho đến khi trả xong nợ.
- Về án phí: Áp dụng Điều 26 quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án, Nghị
quyết 326/UBTVQH14. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Đặng Thị T
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.