Chương II CẤP DỰ BÁO CHÁY RỪNG
Điều 6. Tổ chức lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp
1. Lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng cấp thành phố
a) Lực lượng Kiểm lâm (Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa
cháy rừng) và lực lượng Công an thành phố (Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa
cháy và cứu nạn, cứu hộ) là lực lượng chính; Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố,
các đơn vị quân đội Trung ương đóng trên địa bàn thành phố, các lực lượng khác
là lực lượng phối hợp tham gia chữa cháy khi có lệnh huy động của người có
thẩm quyền;
b) Khi nhận được tin báo cháy rừng và đề nghị hỗ trợ của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố hoặc người được
ủy quyền có mặt tại hiện trường chỉ huy, chỉ đạo lực lượng chính về phòng cháy,
chữa cháy rừng cấp thành phố tổ chức triển khai phối hợp với các lực lượng
chữa cháy trên địa bàn cơ động nhanh đến hiện trường, ứng cứu chữa cháy kịp
thời; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, bắt giữ, điều tra, truy
tìm thủ phạm gây cháy rừng;
c) Trong trường hợp cháy rừng lớn trên diện rộng vượt quá khả năng kiểm
soát của thành phố thì bằng phương tiện thông tin nhanh nhất, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân thành phố báo cáo kịp thời cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Cục
-- 6 of 23 --
Lâm nghiệp và Kiểm lâm) đề nghị hỗ trợ tăng cường lực lượng, phương tiện cho
địa phương tham gia chữa cháy rừng.
2. Lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng cấp xã
a) Các lực lượng chính tham gia chữa cháy rừng trên địa bàn xã là Hạt
Kiểm lâm liên xã khu vực, lực lượng Công an cấp xã, Tổ Cảnh sát phòng cháy,
chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an cấp xã, Ban Chỉ huy quân sự xã,
lực lượng dân quân tự vệ và các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy,
chữa cháy rừng của thôn, làng, tổ dân phố, các lực lượng khác là lực lượng phối
hợp tham gia chữa cháy khi có lệnh huy động của người có thẩm quyền;
b) Khi nhận được tin báo cháy rừng hoặc đề nghị hỗ trợ chữa cháy rừng
của chủ rừng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người được ủy quyền có
mặt tại hiện trường thực hiện chỉ đạo, chỉ huy, tổ chức điều động lực lượng,
phương tiện, dụng cụ, thiết bị trên địa bàn quản lý để tham gia chữa cháy rừng;
c) Trong trường hợp cháy rừng lớn trên diện rộng vượt quá khả năng kiểm
soát thì bằng phương tiện thông tin nhanh nhất, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã báo cáo ngay cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố hoặc Sở Nông nghiệp
và Môi trường (Chi cục Kiểm lâm) đề nghị hỗ trợ tăng cường lực lượng, phương
tiện phối hợp chữa cháy rừng.
3. Lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng của chủ rừng
a) Tất cả các đơn vị chủ rừng phải thành lập các tổ, đội bảo vệ rừng và
phòng cháy, chữa cháy rừng của đơn vị và bảo đảm kinh phí, trang bị phương
tiện và các điều kiện để duy trì hoạt động của tổ, đội phòng cháy, chữa cháy
rừng trực thuộc đơn vị quản lý.;
b) Khi xảy ra cháy rừng, Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm chỉ huy, tổ
chức điều động lực lượng, phương tiện, dụng cụ tại đơn vị tham gia chữa cháy
rừng. Trong trường hợp cháy lớn vượt quá khả năng kiểm soát của đơn vị thì
bằng phương tiện thông tin nhanh nhất, chủ rừng phải báo cáo cho Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã để tổ chức huy động lực lượng, phương tiện tham gia chữa
cháy rừng; đồng thời báo cáo về Sở Nông nghiệp và Môi trường (Chi cục Kiểm
lâm) để theo dõi, chỉ đạo, huy động lực lượng tham gia ứng cứu.
4. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, hộ gia đình, đơn vị vũ trang đóng trong
rừng hoặc có hoạt động sản xuất, kinh doanh trong rừng, ven rừng phải phối hợp
với nhau để thành lập các đội tình nguyện phòng cháy, chữa cháy rừng và có
trách nhiệm phối hợp với các lực lượng tham gia chữa cháy trên địa bàn và chịu
sự chỉ đạo về nghiệp vụ chuyên môn phòng cháy, chữa cháy rừng của người chỉ
đạo, chỉ huy chữa cháy
5. Tùy thuộc theo diễn biến của từng vụ cháy rừng có thể huy động toàn
bộ lực lượng, phương tiện, thiết bị, dụng cụ của các đơn vị, địa phương trên địa
bàn thành phố để chữa cháy rừng khi có yêu cầu.
Chương II CẤP DỰ BÁO CHÁY RỪNG
Điều 8. Đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và tuyên truyền phổ
biến pháp luật về phòng cháy, chữa cháy rừng
1. Đối tượng đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và tuyên truyền phổ
biến pháp luật: lực lượng bảo vệ rừng, đội phòng cháy, chữa cháy rừng của chủ
rừng; các tổ, đội quần chúng phòng cháy, chữa cháy rừng tại cơ sở, người đại
diện cộng đồng dân cư, tổ dân phố, người dân sống tại khu vực gần rừng, ven
rừng. Tùy theo từng đối tượng để có phương pháp đào tạo, huấn luyện và tuyên
truyền phù hợp.
2. Một số nội dung chính trong đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ
về phòng cháy, chữa cháy rừng
a) Các văn bản quy phạm pháp luật, các chủ trương, chính sách, pháp luật
liên quan đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và các văn bản pháp luật
liên quan;
b) Trách nhiệm của các ngành, các cấp, các đơn vị, tổ chức, chủ rừng và
người dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng;
c) Các tác hại, tính chất nguy hiểm của cháy rừng; các nguyên nhân gây ra
cháy và giải pháp phòng ngừa đám cháy;
d) Kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng và các ứng dụng công nghệ mới
trong phòng cháy, chữa cháy rừng; hướng dẫn kỹ thuật các biện pháp, quy trình
phòng cháy, chữa cháy rừng, báo tin khi cháy rừng xảy ra và khắc phục hậu quả
của cháy rừng;
đ) Biện pháp xử lý các tình huống cháy rừng; công tác tự kiểm tra an toàn
về phòng cháy và chữa cháy rừng cho các chủ rừng; biện pháp sử dụng lửa an
toàn trong sản xuất và sinh hoạt trong thời kỳ cao điểm xảy ra cháy rừng;
e) Năng lực chỉ huy, kỹ thuật cứu nạn, cứu hộ trong công tác phòng cháy,
chữa cháy rừng;
g) Xây dựng, thực tập phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; kỹ thuật
cứu hộ, cứu nạn trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng;
h) Nội dung, phương pháp kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy rừng; kỹ
năng, phương pháp vận hành sử dụng, quản lý, bảo dưỡng các phương tiện, thiết
bị chữa cháy rừng.
3. Hình thức tổ chức thực hiện: Tổ chức Hội nghị, họp chuyên đề về
phòng cháy, chữa cháy rừng hoặc lồng ghép với các hoạt động khác; ký cam kết
thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; thông tin trên các
-- 8 of 23 --
phương tiện đại chúng, loa phát thanh ở cơ sở, nơi sinh hoạt cộng đồng của các
khu dân cư sống gần rừng, ven rừng, các trang mạng xã hội; phát hành tờ rơi,
xây dựng bảng tin, biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng, biển cấm lửa tại các khu
rừng, khu dân cư sống gần rừng; các cuộc thi tìm hiểu về phòng cháy, chữa cháy
rừng; các hình thức khác phù hợp với từng đối tượng.
4. Cơ quan Kiểm lâm có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp
xã có rừng tổ chức hướng dẫn, xây dựng, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ về
phòng cháy, chữa cháy rừng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng của chủ
rừng, lực lượng bảo vệ rừng của cơ sở, các tổ chức cá nhân, cộng đồng dân cư
sống ở gần rừng, ven rừng.
5. Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an
thành phố có trách nhiệm hướng dẫn và phối hợp với cơ quan Kiểm lâm thực
hiện những quy định tại khoản 2 Điều này.
6. Việc huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về phòng cháy,
chữa cháy rừng cho các lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng thực hiện theo
quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy.
7. Người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, cơ sở có trách nhiệm tổ chức
tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy rừng cho
cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, học sinh, sinh viên và quần chúng Nhân dân
được biết và thực hiện.