Quyết định02/2014/QĐ-KTNNBan hành: 14/07/2014Còn hiệu lực
Quyết định Ban hành Chuẩn mực kiểm toán nhà nước số 100
Mục lục - 3 điều ▼
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chuẩn mực kiểm toán nhà nước
số 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước, các tổ chức và
cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
Nguyễn Hữu Vạn
-- 1 of 17 --
CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014 31
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 100 (CMKTNN 100)
CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
(Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2014/QĐ-KTNN ngày 14 tháng 7 năm 2014
của Tổng Kiểm toán Nhà nước)
GIỚI THIỆU CHUNG
Cơ sở xây dựng
1. Chuẩn mực này được xây dựng và phát triển trên cơ sở Luật Kiểm toán nhà
nước và ISSAI 100 của INTOSAI - Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán lĩnh vực
công. Các nguyên tắc cơ bản của chuẩn mực này được phát triển thành các hướng
dẫn thực hành (CMKTNN cấp độ 4) và được sử dụng trong quá trình kiểm toán.
Mục đích, phạm vi áp dụng và quy định thực hiện
2. Chuẩn mực này đề cập các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của
Kiểm toán nhà nước đối với tất cả các cuộc kiểm toán và tất cả các loại hình kiểm
toán. Các CMKTNN về các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính, kiểm toán
hoạt động và kiểm toán tuân thủ (CMKTNN 200, 300 và 400) được xây dựng trên
cơ sở chuẩn mực này và tiếp tục phát triển các nguyên tắc để áp dụng trong các
loại hình kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ. Các
nguyên tắc đề cập trong các CMKTNN 200, 300, 400 được áp dụng cùng với các
nguyên tắc đề cập trong chuẩn mực này.
Nguyên tắc sử dụng thuật ngữ trong chuẩn mực
3. Thuật ngữ sử dụng trong chuẩn mực này được định nghĩa giống như trong
các chuẩn mực kiểm toán do Kiểm toán nhà nước ban hành.
NỘI DUNG CHUẨN MỰC
4. Chuẩn mực này bao gồm các nội dung sau: Các quy định chung về kiểm
toán lĩnh vực công; Các yếu tố của kiểm toán lĩnh vực công; Các nguyên tắc cơ
bản của kiểm toán lĩnh vực công.
Các quy định chung về kiểm toán lĩnh vực công
Thẩm quyền
5. Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán lĩnh vực công theo quy định của
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật và trong phạm vi
thẩm quyền cho phép, đảm bảo sự độc lập, khách quan trong thực hiện nhiệm vụ.
Thẩm quyền của Kiểm toán nhà nước xác định trách nhiệm, quyền hạn của
Kiểm toán nhà nước trong kiểm toán lĩnh vực công và quy định cụ thể về nhiệm vụ
kiểm toán và các công việc khác mà Kiểm toán nhà nước phải thực hiện.
-- 2 of 17 --
32 CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014
6. Kiểm toán nhà nước đưa ra các quyết định để đáp ứng các yêu cầu trong
thực hiện trách nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ và các yêu cầu luật định khác như: lựa
chọn chuẩn mực kiểm toán áp dụng, lựa chọn công việc sẽ tiến hành và xác định
thứ tự ưu tiên.
Kiểm toán lĩnh vực công và các mục tiêu kiểm toán
7. Môi trường kiểm toán lĩnh vực công liên quan đến hoạt động của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Các cơ quan, tổ
chức, cá nhân này chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công
trước các tổ chức, cá nhân cung cấp các nguồn công quỹ đó và trước công chúng.
Kiểm toán lĩnh vực công nhằm đạt được mục tiêu là các cơ quan, tổ chức, cá nhân
và cán bộ, nhân viên của các cơ quan, tổ chức này thực hiện chức năng nhiệm vụ
trong việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công đảm bảo tính kinh tế, hiệu quả,
hiệu lực, có đạo đức, tuân thủ pháp luật và các quy định hiện hành.
8. Về tổng quan, kiểm toán lĩnh vực công là quá trình thu thập và đánh giá
bằng chứng một cách khách quan, có hệ thống để xác định việc tuân thủ theo các
tiêu chí đã được xác lập của các thông tin hoặc các điều kiện thực tế. Kiểm toán
lĩnh vực công là cần thiết vì cung cấp cho các cơ quan lập pháp, cơ quan giám sát,
những người chịu trách nhiệm điều hành và công chúng các thông tin và những
đánh giá độc lập, khách quan về việc thực hiện các chính sách, chương trình và
hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng tài chính, tài sản công.
9. Kiểm toán lĩnh vực công góp phần quan trọng trong việc nâng cao công tác
quản trị lĩnh vực công với việc nhấn mạnh các nguyên tắc về minh bạch, trách
nhiệm giải trình, quản trị và điều hành.
10. Kiểm toán lĩnh vực công bắt đầu từ việc xác định các mục tiêu kiểm toán
và các mục tiêu này có thể khác nhau phụ thuộc vào loại hình kiểm toán. Tất cả
các cuộc kiểm toán lĩnh vực công nhằm nâng cao chất lượng quản lý tài chính, tài
sản công thông qua việc:
(i) Cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng báo cáo kiểm toán các
thông tin, kết luận, ý kiến kiểm toán độc lập, khách quan, đáng tin cậy và có đầy
đủ bằng chứng thích hợp liên quan;
(ii) Nâng cao trách nhiệm giải trình và sự minh bạch, khuyến khích cải tiến
liên tục và củng cố niềm tin vào việc sử dụng hợp lý tài chính, tài sản công và việc
quản trị công;
(iii) Nâng cao hiệu lực của các cơ quan có chức năng giám sát và các tổ chức,
cá nhân chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động có sử dụng công quỹ;
(iv) Tạo ra các động lực cải tiến thông qua các kết quả và kiến nghị kiểm toán.
11. Các cuộc kiểm toán lĩnh vực công thường được phân thành ba loại hình chính:
kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ. Mục tiêu của mỗi
cuộc kiểm toán sẽ xác định các chuẩn mực Kiểm toán nhà nước nào được áp dụng.
-- 3 of 17 --
CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014 33
Các loại hình kiểm toán lĩnh vực công
12. Ba loại hình chính trong kiểm toán lĩnh vực công:
(i) Kiểm toán tài chính là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá, xác nhận
tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính hoặc các thông tin tài chính của
đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán tài chính tập trung vào việc xác định xem báo
cáo tài chính hoặc thông tin tài chính của đơn vị có được trình bày phù hợp với
khuôn khổ quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính và các quy định hiện
hành khác có liên quan không. Điều này đạt được thông qua việc thu thập đầy đủ
bằng chứng kiểm toán thích hợp cho phép kiểm toán viên nhà nước đưa ra ý kiến
về việc thông tin tài chính, xét trên các khía cạnh trọng yếu có sai sót trọng yếu do
gian lận hoặc nhầm lẫn hay không.
(ii) Kiểm toán hoạt động là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá tính kinh
tế, hiệu quả và hiệu lực trong quản lý và sử dụng tài chính, tài sản công. Kiểm toán
hoạt động tập trung vào việc xem xét các chương trình, các hoạt động, các đơn vị
hoặc các nguồn công quỹ và các thể chế có vận hành theo các nguyên tắc về tính
kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực không và có cần cải tiến không. Kiểm toán viên
nhà nước đối chiếu kết quả thực hiện của các hoạt động, các chương trình với các
tiêu chí phù hợp; phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch so với các tiêu chí
đó cũng như các vấn đề khác để đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực và đưa ra
kiến nghị để cải thiện tình hình.
(iii) Kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá việc tuân
thủ các quy định hiện hành được coi như các tiêu chí kiểm toán mà đơn vị được
kiểm toán phải thực hiện. Kiểm toán tuân thủ được tiến hành thông qua đánh giá
sự tuân thủ các quy định áp dụng đối với đơn vị được kiểm toán của các hoạt động,
giao dịch và thông tin tài chính, xét trên các khía cạnh trọng yếu. Những quy định
này có thể bao gồm các luật, nghị quyết về ngân sách, chính sách, nguyên tắc, quy
chế quản lý tài chính, tài sản công và đạo đức nghề nghiệp của công chức, viên chức.
13. Kiểm toán nhà nước có thể thực hiện riêng rẽ từng loại hình kiểm toán
hoặc kết hợp các loại hình kiểm toán trên.
Các yếu tố của kiểm toán lĩnh vực công
14. Các yếu tố cơ bản của kiểm toán lĩnh vực công bao gồm: Kiểm toán nhà
nước, Đối tượng chịu trách nhiệm, Đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán (ba bên
liên quan đến cuộc kiểm toán); Nội dung kiểm toán và các thông tin liên quan đến
nội dung kiểm toán, tiêu chí kiểm toán; Các dạng công việc kiểm toán.
Ba bên liên quan
15. Các cuộc kiểm toán lĩnh vực công có liên quan đến ít nhất ba bên khác
nhau: Kiểm toán nhà nước, Đối tượng chịu trách nhiệm và Đối tượng sử dụng báo
cáo kiểm toán. Mối quan hệ giữa các bên được quy định cụ thể trong Luật Kiểm
toán nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan.
-- 4 of 17 --
34 CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014
(i) Kiểm toán nhà nước: Trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước và Kiểm toán
viên nhà nước được quy định trong Luật Kiểm toán nhà nước, các văn bản hướng
dẫn thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước và các quy định của Kiểm toán nhà nước.
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước chịu sự chỉ đạo, điều hành
trực tiếp của Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán.
(ii) Đối tượng chịu trách nhiệm: Là các đơn vị được kiểm toán; các cơ quan, tổ
chức, cá nhân chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến đơn vị được kiểm toán,
chịu trách nhiệm quản lý đơn vị được kiểm toán hay chịu trách nhiệm thực thi các
kiến nghị liên quan. Trách nhiệm của các đối tượng này được quy định trong Hiến
pháp, Luật Kiểm toán nhà nước và các văn bản pháp luật khác.
(iii) Đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán: Là các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử
dụng báo cáo kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước. Đối tượng sử
dụng báo cáo có thể là các cơ quan lập pháp, cơ quan giám sát, cơ quan quản lý và
điều hành hoặc công chúng.
Nội dung kiểm toán và các thông tin liên quan đến nội dung kiểm toán, tiêu
chí kiểm toán
16. Nội dung kiểm toán là các thông tin, tình hình hay các hoạt động được đo
lường hoặc đánh giá bằng các tiêu chí nhất định. Nội dung kiểm toán có thể có
nhiều loại và có đặc điểm khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu kiểm toán. Một nội
dung kiểm toán phù hợp phải đảm bảo rõ ràng và có thể đánh giá, đo lường được
bằng các tiêu chí, có thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để đưa ra
ý kiến hoặc kết luận kiểm toán.
Nội dung kiểm toán và các thông tin liên quan đến nội dung kiểm toán đối với
ba loại hình kiểm toán như sau:
(i) Kiểm toán tài chính: Nội dung kiểm toán của một cuộc kiểm toán tài chính
là các thông tin tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài
chính, hoạt động tài chính, dòng tiền và các thuyết minh hay các yếu tố khác đã
được phản ánh, đo lường và trình bày trong các báo cáo tài chính. Thông tin liên
quan đến nội dung kiểm toán có thể là các báo cáo tài chính, các sổ kế toán, chứng
từ kế toán...
(ii) Kiểm toán hoạt động: Nội dung kiểm toán của một cuộc kiểm toán hoạt
động được xác định theo các mục tiêu kiểm toán và các vấn đề cần kiểm toán. Nội
dung kiểm toán có thể là các chương trình, các hoạt động, các đơn vị hoặc các
nguồn công quỹ cụ thể (có kết quả đầu ra, tác động và ảnh hưởng), tình hình hiện
tại (bao gồm nguyên nhân và hậu quả). Các thông tin liên quan đến nội dung kiểm
toán hoạt động có thể là các thông tin tài chính hoặc phi tài chính. Kiểm toán viên
nhà nước tiến hành đo lường hay đánh giá các nội dung kiểm toán để xem xét mức
độ đạt được hay không đạt được theo các tiêu chí đã được xác lập.
-- 5 of 17 --
CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014 35
(iii) Kiểm toán tuân thủ: Nội dung kiểm toán của một cuộc kiểm toán tuân thủ
được xác định theo phạm vi kiểm toán, đó là các hoạt động, các nghiệp vụ, các
giao dịch hay các thông tin tài chính có liên quan.
17. Tiêu chí kiểm toán là các tiêu chuẩn được sử dụng để đo lường, đánh giá
nội dung kiểm toán. Mỗi cuộc kiểm toán cần có các tiêu chí kiểm toán phù hợp. Để
xác định sự phù hợp của tiêu chí kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước cần xem xét
các tiêu chí đó có liên quan đến nội dung kiểm toán không, đối tượng sử dụng báo
cáo kiểm toán có hiểu được tiêu chí kiểm toán đó không. Kiểm toán viên nhà nước
cũng cần xem xét các yếu tố khác như sự đầy đủ, tin cậy, khách quan, được chấp
nhận rộng rãi và có thể so sánh được. Tiêu chí kiểm toán sử dụng phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, trong đó có các mục tiêu kiểm toán và loại hình kiểm toán. Tiêu chí
kiểm toán có thể cụ thể hoặc có tính tổng hợp, có thể hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau như các văn bản luật, các quy định, các chuẩn mực, các nguyên tắc phổ
biến và các thực hành tốt. Thông tin về các tiêu chí kiểm toán cần được cung cấp
cho đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán để giúp họ hiểu được cách thức nội dung
kiểm toán được đánh giá hay đo lường.
Các dạng công việc kiểm toán
18. Có hai dạng công việc trong kiểm toán lĩnh vực công: Kiểm tra xác nhận
và kiểm tra đánh giá.
(i) Đối với dạng công việc kiểm tra xác nhận, đơn vị được kiểm toán tiến hành
đo lường các nội dung so với các tiêu chí và trình bày thông tin, kết quả về các vấn
đề liên quan. Kiểm toán viên nhà nước thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích
hợp làm căn cứ hợp lý để đưa ra kết luận kiểm toán. Kết quả kiểm toán được trình
bày trong báo cáo kiểm toán dưới dạng xác nhận mức độ phù hợp của nội dung,
thông tin, số liệu được kiểm toán so với các tiêu chí.
(ii) Đối với dạng công việc kiểm tra đánh giá, kiểm toán viên nhà nước tiến
hành đo lường hoặc đánh giá nội dung kiểm toán so với tiêu chí kiểm toán. Kiểm
toán viên nhà nước lựa chọn nội dung và tiêu chí kiểm toán trên cơ sở xem xét rủi
ro và trọng yếu kiểm toán. Kết quả đo lường, đánh giá các nội dung kiểm toán so
với tiêu chí được trình bày trong báo cáo kiểm toán dưới các hình thức như phát
hiện, kết luận, kiến nghị hay ý kiến kiểm toán. Kết quả kiểm toán cũng có thể cung
cấp các thông tin, vấn đề, các phân tích mới.
19. Các cuộc kiểm toán tài chính luôn là dạng công việc kiểm tra xác nhận, vì
chúng dựa vào các thông tin tài chính do đối tượng chịu trách nhiệm trình bày. Các
cuộc kiểm toán hoạt động thông thường là dạng công việc kiểm tra đánh giá. Các
cuộc kiểm toán tuân thủ có thể là kiểm tra xác nhận hoặc kiểm tra đánh giá, hoặc
có thể đồng thời cả hai dạng công việc này.
-- 6 of 17 --
36 CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014
Sự tin cậy và đảm bảo trong kiểm toán lĩnh vực công
Yêu cầu về sự tin cậy và đảm bảo
20. Đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán luôn mong muốn có thể tin tưởng
vào các thông tin mà họ sẽ sử dụng. Vì vậy các cuộc kiểm toán phải cung cấp
thông tin dựa trên bằng chứng đầy đủ và thích hợp đã thu thập được và kiểm toán
viên phải thực hiện các thủ tục để giảm thiểu và quản lý rủi ro đưa ra các kết luận
kiểm toán không phù hợp. Sự đảm bảo của các thông tin cung cấp phải được thể
hiện rõ ràng, minh bạch. Tuy nhiên do các cuộc kiểm toán đều có hạn chế nhất
định, do đó một cuộc kiểm toán có thể không bao giờ cung cấp được sự đảm bảo
tuyệt đối.
Các hình thức thông tin về sự đảm bảo
21. Tùy thuộc vào từng cuộc kiểm toán và yêu cầu của đối tượng sử dụng báo
cáo kiểm toán, sự đảm bảo có thể được trình bày theo hai cách sau:
(i) Thông qua các ý kiến và kết luận kiểm toán để trình bày sự đảm bảo. Dạng
trình bày này được áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán với công việc là kiểm tra
xác nhận và được áp dụng trong một số trường hợp kiểm toán với công việc là
kiểm tra đánh giá.
(ii) Theo các hình thức khác: Đối với một số trường hợp công việc là kiểm tra
đánh giá, kiểm toán viên nhà nước không đưa ra một thông tin rõ ràng về sự đảm
bảo đối với nội dung kiểm toán. Trong các trường hợp này, kiểm toán viên nhà
nước cung cấp cho đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán mức độ tin cậy cần thiết
thông qua việc giải thích cách thức hình thành các phát hiện, tiêu chí và kết luận
kiểm toán và giải thích rõ việc xem xét tổng thể các phát hiện và tiêu chí kiểm toán
để đưa ra một kết luận hoặc kiến nghị kiểm toán.
Các mức độ đảm bảo
22. Sự đảm bảo có thể là hợp lý hoặc hạn chế.
(i) Đảm bảo hợp lý: Sự đảm bảo hợp lý là cao nhưng không phải tuyệt đối. Kết
luận kiểm toán được trình bày theo hướng khẳng định rõ ràng như sau: theo ý kiến
của Kiểm toán nhà nước, xét trên các khía cạnh trọng yếu nội dung kiểm toán đã
tuân thủ hoặc chưa tuân thủ, hoặc trong các trường hợp khác có thể trình bày rằng
các thông tin về nội dung kiểm toán là đúng đắn, trung thực, hợp lý và phù hợp với
các chuẩn mực áp dụng.
(ii) Đảm bảo hạn chế: Trong trường hợp cung cấp sự đảm bảo hạn chế, kết
luận kiểm toán đề cập như sau: trên cơ sở các thủ tục kiểm toán đã thực hiện,
không có yếu tố nào để Kiểm toán nhà nước cho rằng nội dung kiểm toán không
tuân thủ với các tiêu chí được áp dụng. Các thủ tục kiểm toán được thực hiện trong
một cuộc kiểm toán có sự đảm bảo hạn chế thường có giới hạn hơn so với các thủ tục
-- 7 of 17 --
CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014 37
cần thực hiện để đạt được sự đảm bảo hợp lý. Tuy nhiên, theo xét đoán chuyên
môn của kiểm toán viên nhà nước, sự đảm bảo hạn chế có giá trị nhất định đối với
đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán.
Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán lĩnh vực công
23. Các nguyên tắc được cụ thể hóa dưới đây là những nguyên tắc cơ bản để
thực hiện một cuộc kiểm toán. Để dễ hiểu, các nguyên tắc cơ bản được trình bày
như sau:
(i) Yêu cầu đối với Kiểm toán nhà nước;
(ii) Các nguyên tắc chung là các nguyên tắc mà kiểm toán viên nhà nước cần
xem xét trước khi bắt đầu cuộc kiểm toán và tại một số thời điểm trong cuộc kiểm
toán;
(iii) Các nguyên tắc liên quan đến quá trình kiểm toán.
Các lĩnh vực được điều chỉnh bởi các nguyên tắc kiểm toán lĩnh vực công
CÁC NGUYÊN TẮC LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH KIỂM TOÁN
CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG
Đạo đức nghề
nghiệp và tính
độc lập
Xét đoán chuyên
môn, thận trọng và
thái độ hoài nghi
Kiểm soát chất
lượng kiểm toán
Các kỹ năng cần thiết và việc
sử dụng kết quả thanh tra, kiểm
tra, kiểm toán của các đối
tượng khác
Rủi ro
kiểm toán
Trọng yếu
kiểm toán
Hồ sơ kiểm toán Trao đổi thông tin
Lập kế hoạch
kiểm toán
Thực hiện kiểm
toán
Lập báo cáo
kiểm toán
• Xác định
các yếu tố của
cuộc kiểm
toán;
• Thu thập
thông tin;
• Đánh giá
rủi ro hoặc
phân tích vấn
đề;
• Xây dựng
kế hoạch kiểm
toán.
• Lập báo
cáo kiểm toán
dựa trên các
kết luận đạt
được.
• Thực hiện
các thủ tục
kiểm toán
theo kế hoạch
để thu thập
bằng chứng
kiểm toán;
• Đánh giá
bằng chứng
kiểm toán và
đưa ra kết
luận.
Theo dõi thực
hiện kiến nghị
kiểm toán
• Theo dõi,
kiểm tra việc
thực hiện các
kết luận, kiến
nghị trong báo
cáo kiểm toán.
-- 8 of 17 --
38 CÔNG BÁO/Số 791 + 792/Ngày 29-8-2014
Yêu cầu đối với Kiểm toán nhà nước
24. Kiểm toán nhà nước phải thiết lập và duy trì các quy định phù hợp về đạo
đức và kiểm soát chất lượng kiểm toán
Kiểm toán nhà nước phải thiết lập hệ thống các quy định về đạo đức nghề
nghiệp và kiểm soát chất lượng kiểm toán để đảm bảo hợp lý rằng Kiểm toán nhà
nước và công chức, kiểm toán viên nhà nước tuân theo các chuẩn mực nghề nghiệp
và các yêu cầu về mặt pháp lý và đạo đức hiện hành (Tham chiếu CMKTNN 30 - Bộ
quy tắc đạo đức nghề nghiệp và CMKTNN 40 - Kiểm soát chất lượng kiểm toán).
Các nguyên tắc chung
Đạo đức nghề nghiệp và tính độc lập
25. Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc về đạo đức
nghề nghiệp và đảm bảo tính độc lập
Các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp cần được thể hiện thông qua hành vi ứng
xử chuyên nghiệp của kiểm toán viên. Kiểm toán nhà nước xây dựng các quy tắc
đạo đức và nhấn mạnh sự cần thiết mỗi kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ các
quy tắc đó. Kiểm toán viên nhà nước phải giữ tính độc lập sao cho báo cáo kiểm
toán có tính khách quan và được nhìn nhận là khách quan bởi đối tượng sử dụng
báo
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.