CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđịnh hoãn phiên tòa số 610/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025, giữa các
2
21/10/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau phát
sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống về mọi mặt, bà T và ông L đã ly
thân không còn sống chung với nhau từ năm 2019. Hôn nhân không hạnh phúc,
tình cảm không thể hàn gắn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông L.
Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Trịnh Triều A, sinh ngày
18/9/2014 và Trịnh Thị Ngọc H, sinh ngày 09/01/2019, hiện đang sống cùng bà
T. Sau ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dạy 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông
L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Trịnh
Văn L không đến tham gia hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang phát biểu ý kiến
về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về việc giải
quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn
của bà T, cho bà T được ly hôn với ông L.
- Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 (hai) con chung tên Trịnh
Triều A và Trịnh Thị Ngọc H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: bà T không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết
nên không đề nghị xem xét.
- Về án phí dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân
và gia đình, bị đơn cư trú tại phường CĐ, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều
28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.