1. Đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thực hiện theo hình thức
xây dựng - chuyển giao (BT) thực hiện theo quy định của
Nghị định
số 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ thì việc xử lý
chuyển tiếp được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương
thức đối tác công - tư.
2. Đối với các dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị đã có
quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư tại thời điểm
Nghị định
số 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ,
Nghị định
số 49/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Chính phủ,
Nghị định
số 35/2023/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Chính phủ thì chủ đầu tư tiếp
tục thực hiện nghĩa vụ nhà ở xã hội theo quy định của các Nghị định nêu trên.
Trường hợp điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án thì thực hiện theo quy định của
pháp luật về đầu tư.
3. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm
quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư; chấp thuận đầu tư dự án;
quyết định phê duyệt dự án trước ngày Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 ngày 27
tháng 11 năm 2023 có hiệu lực thi hành thì chủ đầu tư dự án tiếp tục được hưởng
61
cơ chế ưu đãi theo nội dung văn bản đã được quyết định, chấp thuận, phê duyệt,
trừ trường hợp Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 và Nghị định này quy định ưu đãi
đầu tư mới, ưu đãi đầu tư cao hơn thì chủ đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo
quy định của Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 và Nghị định này cho thời gian hưởng
ưu đãi còn lại của dự án đầu tư.
4.12 Đối với trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại có quy mô
dưới 10 ha, chủ đầu tư dự án đã được chấp thuận thực hiện nghĩa vụ nhà ở xã hội
theo hình thức nộp bằng tiền trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng
đến thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành mà chưa tính, chưa nộp số tiền
chủ đầu tư phải nộp tương đương giá trị quỹ đất ở đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ
tầng kỹ thuật phải dành để xây dựng nhà ở xã hội thì thực hiện tính, thu, nộp theo
quy định tại Nghị định này; trường hợp đã tính tiền nhưng chưa nộp tiền thì phải
nộp số tiền đã tính và số tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 2a Điều 19 của
Nghị định này.
Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại có quy mô dưới 10 ha,
chủ đầu tư dự án đã được chấp thuận thực hiện nghĩa vụ nhà ở xã hội theo hình
thức nộp bằng tiền trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành đã tính, đã nộp
tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày
Nghị định này có hiệu lực thi hành thì không phải nộp số tiền theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 19 của Nghị định này
5. Đối với dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị
đã lựa chọn chủ đầu tư trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành, nhưng
chưa bố trí quỹ đất dành để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về
nhà ở tại thời điểm dự án được quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ
trương đầu tư, chấp thuận đầu tư, phê duyệt dự án mà sau thời điểm Nghị định
này có hiệu lực thi hành, dự án đó bị thu hồi theo quy định của pháp luật để giao
cho chủ đầu tư khác thì chủ đầu tư dự án đó có trách nhiệm tổ chức lập, điều chỉnh
quy hoạch để bố trí bổ sung quỹ đất ở trong dự án để xây dựng nhà ở xã hội theo
quy định tại Điều 17 của Nghị định này.
6. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội được ưu đãi theo quy
định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 9 của
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày
20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tương ứng tại điểm
a khoản 8 Điều 1
Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 của
Chính phủ, khoản 2 và khoản 5 Điều 6
Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20
tháng 6 năm 2023 của Chính phủ) thì khi chuyển nhượng công trình kinh doanh
thương mại, nhà ở thương mại trong phần diện tích được ưu đãi này không phải
nộp số tiền sử dụng đất đã được miễn, giảm cho Nhà nước.
12 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của
Nghị định số 261/2025/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của
Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội và
Nghị định số 192/2025/NĐ-CP ngày 01
tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Nghị quyết
số 201/2025/QH15 ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Quốc hội thí điểm về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát
triển nhà ở xã hội, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 10 năm 2025.
62
7. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm
quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư; chấp thuận đầu tư dự án;
quyết định phê duyệt dự án và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp tiền một lần cho cả thời gian
thuê trước ngày Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2023 có hiệu
lực thi hành thì không xác định lại mức ưu đãi đã được hưởng và tiền sử dụng đất,
tiền thuê đất đã được xác định đúng chính sách pháp luật.
8. Chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội không sử dụng nguồn
vốn hoặc hình thức quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Nhà ở số
65/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung tại điểm b khoản 6 Điều 99 của Luật Đầu
tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) số 64/2020/QH14 để cho thuê, cho thuê
mua, bán thì được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định tại điểm a
khoản 2 Điều 85 của Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2023.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào
nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư dự án phải nộp cho Nhà nước, kể cả chi phí bồi
thường, giải phóng mặt bằng (nếu có) đối với trường hợp chủ đầu tư đã nộp tiền
sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất hoặc đã nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác mà diện tích đất đó được sử dụng
để xây dựng nhà ở xã hội hoặc chủ đầu tư dự án đã nộp tiền sử dụng đất đối với
quỹ đất 20% theo quy định tại Điều 5 của
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20
tháng 10 năm 2015 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 1
Nghị
định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Chính phủ).
9. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đang trong giai đoạn lựa
chọn chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của
Nghị định
số 49/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Chính phủ mà chưa ban hành
văn bản lựa chọn chủ đầu tư theo quy định của
Nghị định số 49/2021/NĐ-
CP trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục áp dụng theo quy
định của
Nghị định số 49/2021/NĐ-CP.
10. Đối với trường hợp bán nhà ở xã hội phải nộp tiền sử dụng đất theo quy
định của
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính
phủ (được sửa đổi, bổ sung tại
Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm
2021 của Chính phủ) trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà đến ngày
Nghị định này có hiệu lực thi hành vẫn chưa nộp tiền sử dụng đất thì tiếp tục nộp
tiền theo quy định của
Nghị định số 49/2021/NĐ-CP.
11. Việc đăng ký hồ sơ, xét duyệt hồ sơ, thẩm định giá, ký Hợp đồng, mua
bán, cho thuê mua, cho thuê, bán lại nhà ở xã hội đang thực hiện theo quy định
của
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ
(được sửa đổi, bổ sung tại
Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm
2021 của Chính phủ) trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà đến ngày
Nghị định này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện xong thì tiếp tục áp dụng theo
quy định của
Nghị định số 49/2021/NĐ-CP.
63
12. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đã cho thuê 20% tổng
diện tích sàn nhà ở xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 26
Nghị định
số 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ, nếu người thuê
nhà ở có nhu cầu mua nhà ở đang thuê trước thời hạn 05 năm thì chủ đầu tư được
phép bán nhà ở cho người đang thuê nếu đảm bảo đối tượng, điều kiện theo quy
định của Nghị định này.
13. Đối với dự án đang trong quá trình thực hiện chấp thuận chủ trương đầu
tư trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà quy hoạch chi tiết của dự án chưa
phù hợp quy hoạch chung và quy hoạch phân khu thì sự phù hợp với quy hoạch
được thẩm định theo quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và chỉ tiêu về hệ số
sử dụng đất hoặc mật độ xây dựng theo quy định của Luật Nhà ở số
65/2014/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
14. Đối với các khoản vay đã ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Chính
sách xã hội để mua, thuê mua nhà ở xã hội, xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa
nhà để ở theo quy định tại Điều 16
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng
10 năm 2015 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại
Nghị định số 49/2021/NĐ-
CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Chính phủ) trước ngày Nghị định này có hiệu
lực thi hành thì áp dụng mức lãi suất theo quy định tại khoản 4 Điều 48 của Nghị
định này cho dư nợ gốc thực tế, dư nợ gốc bị quá hạn (nếu có)./.
BỘ XÂY DỰNG XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
Số: 19 /VBHN-BXD Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2025
Nơi nhận:
- Bộ trưởng (để b/c);
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Cổng TTĐT Chính phủ (để đăng tải);
- Cổng TTĐT Bộ Xây dựng (để đăng tải);
- Cục Quản lý nhà và thị trường bất động
sản;
- Lưu: VT, QLN
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Văn Sinh