Luật07/2022/QH15Ban hành: 16/06/2022Còn hiệu lực
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải1 lượt xem
Mục lục - 17 điều ▼
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung các khoản 8, 9 và 10; bổ sung các khoản 10a, 10b, 10c và
10d vào sau khoản 10; sửa đổi, bổ sung khoản 11 và bổ sung khoản 11a vào sau
khoản 11 như sau:
“8. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác
phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác,
biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác.
9. Tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố là tác phẩm, bản ghi âm, ghi
hình đã được phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu
quyền liên quan để phổ biến đến công chúng bản sao dưới bất kỳ hình thức nào với
số lượng hợp lý.
10. Sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần tác phẩm hoặc
bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
10a. Tiền bản quyền là khoản tiền trả cho việc sáng tạo hoặc chuyển giao
quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi
hình, chương trình phát sóng, bao gồm cả tiền nhuận bút, tiền thù lao.
10b. Biện pháp công nghệ bảo vệ quyền là biện pháp sử dụng bất kỳ kỹ thuật,
công nghệ, thiết bị hoặc linh kiện nào trong quá trình hoạt động bình thường có
chức năng chính nhằm bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan đối với hành vi được
thực hiện mà không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu
quyền liên quan.
4 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
10c. Biện pháp công nghệ hữu hiệu là biện pháp công nghệ bảo vệ quyền mà
chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan kiểm soát việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương
trình được mã hóa thông qua các ứng dụng kiểm soát truy cập, quy trình bảo vệ
hoặc cơ chế kiểm soát sao chép.
10d. Thông tin quản lý quyền là thông tin xác định về tác phẩm, cuộc biểu
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương
trình được mã hóa; về tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở
hữu quyền liên quan và các điều kiện khai thác, sử dụng; số hiệu, mã số thể hiện
các thông tin nêu trên. Thông tin quản lý quyền phải gắn liền với bản sao hoặc xuất
hiện đồng thời với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình
phát sóng khi tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát
sóng được truyền đến công chúng.
11. Phát sóng là việc truyền đến công chúng bằng phương tiện vô tuyến âm
thanh hoặc hình ảnh, âm thanh và hình ảnh, sự tái hiện âm thanh hoặc hình ảnh, sự
tái hiện âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh, truyền tín hiệu được
mã hóa trong trường hợp phương tiện giải mã được tổ chức phát sóng cung cấp tới
công chúng hoặc được cung cấp với sự đồng ý của tổ chức phát sóng.
11a. Truyền đạt đến công chúng là việc truyền đến công chúng tác phẩm; âm
thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn; âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện của âm
thanh, hình ảnh được định hình trong bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện
nào ngoài phát sóng.”;
b) Bổ sung khoản 12a vào sau khoản 12 và sửa đổi, bổ sung khoản 13 như sau:
“12a. Sáng chế mật là sáng chế được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định
là bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
13. Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc bộ phận
để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp, được thể hiện bằng hình khối, đường nét,
màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai
thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm phức hợp.”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 20 như sau:
“20. Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được bộ phận công chúng có liên quan
biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam.”;
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 5
d) Sửa đổi, bổ sung khoản 22 và bổ sung khoản 22a vào sau khoản 22 như sau:
“22. Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm từ
khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia cụ thể.
22a. Chỉ dẫn địa lý đồng âm là các chỉ dẫn địa lý có cách phát âm hoặc cách
viết trùng nhau.”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 7 như sau:
“2. Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và không
được vi phạm quy định khác của pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân thực
hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử
dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 8 như sau:
“2. Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ
thông qua hỗ trợ về tài chính, ưu đãi về thuế, tín dụng và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư khác
phù hợp với quy định của pháp luật nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
3. Hỗ trợ tài chính cho việc tạo ra, nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu
trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và
nước ngoài tài trợ cho hoạt động đổi mới sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.”.
4. Bổ sung Điều 12a vào trước Điều 13 trong Mục 1 Chương I Phần thứ hai
như sau:
“Điều 12a. Tác giả, đồng tác giả
1. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trường hợp có từ hai người trở
lên cùng trực tiếp sáng tạo tác phẩm với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp
thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả.
2. Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác
phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả.
3. Việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm có đồng
tác giả phải có sự thỏa thuận của các đồng tác giả, trừ trường hợp tác phẩm có
phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần
của các đồng tác giả khác hoặc luật khác có quy định khác.”.
6 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
5. Sửa đổi, bổ sung các điều 19, 20 và 21 như sau:
“Điều 19. Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm:
1. Đặt tên cho tác phẩm.
Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá
nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này;
2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh
khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không
cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương
hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Điều 20. Quyền tài sản
1. Quyền tài sản bao gồm:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các
bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công
chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian
và từng phần tác phẩm;
c) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất
kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3
Điều này;
d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc
hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới
dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
đ) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu
tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác,
bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có
thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính,
trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc
cho thuê.
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 7
2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện theo quy
định của Luật này.
Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền
quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải được sự cho
phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất
khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại khoản 3
Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này. Trường hợp làm tác phẩm
phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 của
Luật này còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.
3. Chủ sở hữu quyền tác giả không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác
thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép tác phẩm chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật
này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động
của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua
trung gian hoặc sử dụng hợp pháp tác phẩm, không có mục đích kinh tế độc lập và
bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao
tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc
phân phối.
Điều 21. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu
1. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh được quy định như sau:
a) Biên kịch, đạo diễn được hưởng quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4
Điều 25. a. Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả dành
cho người khuyết tật
1. Người khuyết tật, người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật được
quyền sao chép, biểu diễn, truyền đạt tác phẩm dưới định dạng bản sao dễ tiếp cận
của tác phẩm khi có quyền tiếp cận hợp pháp với bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.
Bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận là bản sao của tác phẩm được thể hiện bằng
một phương thức hay định dạng khác dành cho người khuyết tật; chỉ được sử dụng
cho mục đích cá nhân của người khuyết tật và có thể có những điều chỉnh kỹ thuật
phù hợp, cần thiết để người khuyết tật có thể tiếp cận tác phẩm.
2. Tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ có quyền sao chép,
phân phối, biểu diễn, truyền đạt tác phẩm dưới định dạng bản sao dễ tiếp cận của
tác phẩm khi có quyền tiếp cận hợp pháp bản gốc hoặc bản sao tác phẩm và hoạt
động không vì mục đích lợi nhuận.
3. Tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ có quyền phân phối
hoặc truyền đạt bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận của tác phẩm tới tổ chức tương
ứng theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
4. Tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ có quyền phân phối
hoặc truyền đạt bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận của tác phẩm tới người khuyết
tật ở nước ngoài theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác
giả với điều kiện trước khi phân phối hoặc truyền đạt, tổ chức này không biết hoặc
không có cơ sở để biết bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận này sẽ được sử dụng cho
bất cứ đối tượng nào khác ngoài người khuyết tật.
5. Người khuyết tật hoặc người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật
hoặc tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ có quyền nhập khẩu
bản sao dưới định dạng dễ tiếp cận của tác phẩm từ tổ chức tương ứng theo quy
định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên vì lợi ích của người khuyết tật mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu
quyền tác giả.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
12 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
Điều 26. Giới hạn quyền tác giả
1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng
phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác
phẩm bao gồm:
a) Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở
hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục
đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình
thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền
tác giả kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán do các
bên thỏa thuận; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định
của Chính phủ.
Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố, tác phẩm đã được chủ sở
hữu quyền tác giả cho phép định hình trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục
đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới
bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ
sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ;
b) Trường hợp tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép định hình
trên bản ghi âm, ghi hình công bố nhằm mục đích thương mại thì tổ chức, cá nhân
sử dụng bản ghi âm, ghi hình này trong hoạt động kinh doanh, thương mại không
phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả của tác
phẩm đó theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng; trường hợp không đạt được thỏa thuận
thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Chính phủ quy định chi tiết các hoạt
động kinh doanh, thương mại quy định tại điểm này.
2. Việc sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được mâu
thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất
hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này
không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.
4. Tổ chức, cá nhân Việt Nam hưởng ưu đãi dành cho các nước đang phát triển
đối với quyền dịch tác phẩm từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt và quyền sao chép
để giảng dạy, nghiên cứu không nhằm mục đích thương mại theo quy định tại các
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 13
điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì
thực hiện theo quy định của Chính phủ.
5. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng tác phẩm đã công bố của tổ
chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm được hoặc không xác định được chủ
sở hữu quyền tác giả thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.”.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 28 như sau:
“Điều 28. Hành vi xâm phạm quyền tác giả
1. Xâm phạm quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật này.
2. Xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.
3. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại các
điều 25, 25a và 26 của Luật này.
4. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ
sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình
nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và Điều 35 của Luật này.
5. Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp
thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc
linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị,
sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện
pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền tác giả.
6. Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép
của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện
hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi
xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
7. Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung
cấp đến công chúng bản sao tác phẩm khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản
lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác
giả; khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả
năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo
quy định của pháp luật.
8. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ
trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại
khoản 3 Điều 198b của Luật này.”.
14 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
9. Sửa đổi, bổ sung các điều 29, 30, 31, 32 và 33 như sau:
“Điều 29. Quyền của người biểu diễn
1. Người biểu diễn có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc
biểu diễn theo quy định của Luật này.
Trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với cuộc
biểu diễn thì người biểu diễn được hưởng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2
Điều này; chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn được hưởng các quyền tài sản
quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Quyền nhân thân bao gồm:
a) Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát
sóng cuộc biểu diễn;
b) Bảo vệ sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn không cho người khác xuyên
tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương
hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.
3. Quyền tài sản bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân
khác thực hiện các quyền sau đây:
a) Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
b) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần cuộc biểu diễn của
mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay
hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều này;
c) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình
của mình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu
diễn đó nhằm mục đích phát sóng;
d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc
hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản định hình
cuộc biểu diễn của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b
khoản 5 Điều này;
đ) Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao cuộc biểu diễn của
mình đã được định hình trong bản ghi âm, ghi hình, kể cả sau khi được phân phối
bởi người biểu diễn hoặc với sự cho phép của người biểu diễn;
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 15
e) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn của
mình, bao gồm cả cung cấp đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn theo
cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
4. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền
quy định tại khoản 3 Điều này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối
với cuộc biểu diễn và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho
chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn theo quy định của pháp luật hoặc theo
thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định, trừ trường hợp quy định tại
khoản 5 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này.
5. Chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn không có quyền ngăn cấm tổ chức,
cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép cuộc biểu diễn chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của
Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt
động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông
qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình
trên bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động
xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao
bản định hình cuộc biểu diễn đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép
thực hiện việc phân phối.
Điều 30. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
1. Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ
chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:
a) Sao chép toàn bộ hoặc một phần bản ghi âm, ghi hình của mình bằng bất kỳ
phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
b) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc
hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi
hình của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3
Điều này;
c) Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình
của mình, kể cả sau khi được phân phối bởi nhà sản xuất hoặc với sự cho phép của
nhà sản xuất;
16 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
d) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản ghi âm, ghi hình của mình, bao
gồm cả cung cấp tới công chúng bản ghi âm, ghi hình theo cách mà công chúng có
thể tiếp cận tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
2. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền
quy định tại khoản 1 Điều này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối
với bản ghi âm, ghi hình và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có)
cho chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình theo quy định của pháp luật
hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định, trừ trường hợp
quy định tại khoản 3 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này.
3. Chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình không có quyền ngăn cấm tổ
chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép bản ghi âm, ghi hình chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy
định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình
hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba
thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp bản ghi âm, ghi hình, không có mục
đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao
bản ghi âm, ghi hình đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện
việc phân phối.
Điều 31. Quyền của tổ chức phát sóng
1. Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân
khác thực hiện các quyền sau đây:
a) Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;
b) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần bản định hình
chương trình phát sóng của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ
trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
c) Định hình chương trình phát sóng của mình;
d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình
thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản định hình chương trình phát sóng
của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này.
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 17
2. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền
quy định tại khoản 1 Điều này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối
với chương trình phát sóng và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có)
cho chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng theo quy định của pháp luật
hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định, trừ trường hợp
quy định tại khoản 3 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này.
3. Chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng không có quyền ngăn cấm
tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép chương trình phát sóng chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy
định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình
hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba
thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp chương trình phát sóng, không có mục
đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản định hình
chương trình phát sóng đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực
hiện việc phân phối.
Điều 32. Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền liên quan
1. Các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình
phát sóng đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng
phải thông tin về cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng
bao gồm:
a) Ghi âm, ghi hình trực tiếp một phần cuộc biểu diễn để giảng dạy không
nhằm mục đích thương mại hoặc để đưa tin thời sự;
b) Tự sao chép hoặc hỗ trợ người khuyết tật sao chép một phần cuộc biểu diễn,
bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích nghiên cứu khoa học,
học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;
c) Sao chép hợp lý một phần cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương
trình phát sóng để giảng dạy trực tiếp của cá nhân và không nhằm mục đích
thương mại, trừ trường hợp cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình
phát sóng này đã được công bố để giảng dạy;
d) Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích đưa tin thời sự;
18 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
đ) Tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm thời để phát sóng khi được hưởng
quyền phát sóng.
2. Việc sử dụng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng
quy định tại khoản 1 Điều này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình
thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây
thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của người biểu diễn, nhà sản
xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 33. Giới hạn quyền liên quan
1. Các trường hợp sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố không phải xin phép
nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về bản ghi âm, ghi hình bao gồm:
a) Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích
thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức
nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho người biểu diễn, nhà
sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng. Mức tiền bản
quyền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không đạt
được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích
thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất
kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền cho người
biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng
theo quy định của Chính phủ;
b) Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích
thương mại trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép nhưng
phải trả tiền bản quyền theo thỏa thuận cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không đạt được thỏa
thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Chính phủ quy định chi tiết các
hoạt động kinh doanh, thương mại quy định tại điểm này.
2. Việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình quy định tại khoản 1 Điều này không được
mâu thuẫn với việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp
pháp của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 19
3. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công
bố của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm được hoặc không xác định
được chủ sở hữu quyền liên quan thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.”.
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 35 như sau:
“Điều 35. Hành vi xâm phạm quyền liên quan
1. Xâm phạm quyền của người biểu diễn quy định tại Điều 29 của Luật này.
2. Xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quy định tại Điều 30
của Luật này.
3. Xâm phạm quyền của tổ chức phát sóng quy định tại Điều 31 của Luật này.
4. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Điều 32
và Điều 33 của Luật này.
5. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do chủ sở hữu
quyền liên quan thực hiện để bảo vệ quyền của mình nhằm thực hiện hành vi quy
định tại Điều này và Điều 28 của Luật này.
6. Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp
thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc
linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị,
sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện
pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền liên quan.
7. Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép
của chủ sở hữu quyền liên quan khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành
vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm
phạm quyền liên quan theo quy định của pháp luật.
8. Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung
cấp đến công chúng cuộc biểu diễn, bản sao cuộc biểu diễn đã được định hình hoặc
bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng khi biết hoặc có cơ sở để biết thông
tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu
quyền liên quan; khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi
giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền
liên quan theo quy định của pháp luật.
9. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, chào bán, bán
hoặc cho thuê thiết bị, hệ thống khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, hệ thống đó
20 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
giải mã trái phép hoặc chủ yếu để giúp cho việc giải mã trái phép tín hiệu vệ tinh
mang chương trình được mã hóa.
10. Cố ý thu hoặc tiếp tục phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã
hóa khi tín hiệu đã được giải mã mà không được phép của người phân phối hợp pháp.
11. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ
trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại
khoản 3 Điều 198b của Luật này.”.
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 36 như sau:
“Điều 36. Chủ sở hữu quyền tác giả
Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn
bộ quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này.”.
12. Sửa đổi, bổ sung các điều 41, 42, 43, 44 và bổ sung Điều 44a vào sau
Điều 44. trong Chương III Phần thứ hai như sau:
“Điều 41. Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền
1. Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ quyền quy
định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này theo thỏa thuận trong
hợp đồng là chủ sở hữu quyền tác giả.
2. Tổ chức, cá nhân đang quản lý hoặc nhận chuyển nhượng quyền đối với tác
phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của
tác giả, đồng tác giả được xác định. Khi danh tính của tác giả, đồng tác giả được
xác định thì chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm này, các quyền và nghĩa vụ
liên quan đến quyền tác giả của tổ chức, cá nhân đang quản lý hoặc nhận chuyển
nhượng được xác định theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
Điều 44. Chủ sở hữu quyền liên quan
1. Chủ sở hữu quyền liên quan bao gồm:
a) Người biểu diễn sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ
thuật của mình để thực hiện cuộc biểu diễn là chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu
diễn đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên liên quan;
b) Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ
sở vật chất - kỹ thuật của mình để sản xuất bản ghi âm, ghi hình là chủ sở hữu
quyền đối với bản ghi âm, ghi hình đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên
liên quan;
c) Tổ chức phát sóng là chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng của
mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên liên quan.
2. Chủ sở hữu quyền liên quan là tổ chức giao nhiệm vụ cho tổ chức, cá
nhân thuộc tổ chức của mình thực hiện cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng là chủ sở hữu các quyền tương ứng quy định tại khoản 3
Điều 44. a. Nguyên tắc xác định và phân chia tiền bản quyền
1. Các đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan thỏa
thuận về tỷ lệ phân chia tiền bản quyền theo phần tham gia sáng tạo đối với toàn
bộ tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, phần
vốn góp và phù hợp với hình thức khai thác, sử dụng.
2. Tỷ lệ phân chia tiền bản quyền khi bản ghi âm, ghi hình được sử dụng theo
quy định tại khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 33 của Luật này thực hiện theo thỏa
thuận của chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan
đối với bản ghi âm, ghi hình đó; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực
hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Tiền bản quyền được xác định theo khung và biểu mức căn cứ vào loại hình,
hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất khai thác, sử dụng; hài hòa lợi ích
của người sáng tạo, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ,
phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội theo thời gian và địa điểm diễn ra hành vi
khai thác, sử dụng đó.”.
13. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 47 như sau:
“1. Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền
tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn
một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 19, khoản 1
Điều 50. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan
1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực
tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả,
đăng ký quyền liên quan theo cách thức trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua
Cổng dịch vụ công trực tuyến cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả,
quyền liên quan.
2. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan bao gồm:
a) Tờ khai đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan.
Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt có đầy đủ thông tin về người nộp hồ sơ,
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan; thời gian hoàn
thành; tóm tắt nội dung tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc
chương trình phát sóng; tên tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, tác phẩm được sử
dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời
gian, địa điểm, hình thức công bố; thông tin về cấp lại, cấp đổi (nếu có), cam đoan
về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong tờ khai. Tờ khai do chính tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ký tên hoặc điểm chỉ, trừ
trường hợp không có khả năng về thể chất để ký tên hoặc điểm chỉ.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu tờ khai đăng ký
quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan;
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 25
b) Hai bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc hai bản sao bản định hình
đối tượng đăng ký quyền liên quan;
c) Giấy ủy quyền, nếu người nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền
liên quan là người được ủy quyền;
d) Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền do tự sáng tạo hoặc do giao nhiệm
vụ sáng tạo, giao kết hợp đồng sáng tạo, được thừa kế, được chuyển giao quyền;
đ) Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
e) Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên
quan thuộc sở hữu chung.
3. Tài liệu quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này phải được làm
bằng tiếng Việt; trường hợp làm bằng ngôn ngữ khác thì phải được dịch ra
tiếng Việt.”.
15. Sửa đổi, bổ sung Điều 52 như sau:
“Điều 52. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy
chứng nhận đăng ký quyền liên quan
Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan
quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan có trách nhiệm cấp Giấy chứng
nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan cho người
nộp hồ sơ. Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả,
Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền
tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người
nộp hồ sơ.”.
16. Sửa đổi, bổ sung Điều 55 như sau:
“Điều 55. Cấp lại, cấp đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký
quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan
1. Trong trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng
nhận đăng ký quyền liên quan bị mất, hư hỏng thì cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này tiến hành cấp lại Giấy chứng
nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trong
thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Trường hợp đề nghị
thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan; thông tin về tác
26 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
phẩm, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; thông tin về đối tượng quyền liên quan,
chủ sở hữu quyền liên quan thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại
khoản 2 Điều 51 của Luật này tiến hành cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký
quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trong thời hạn mười
hai ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
Trường hợp từ chối cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả,
Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì cơ quan quản lý nhà nước về
quyền tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho
người nộp hồ sơ.
2. Trong trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác
giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không phải là tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng đã đăng ký không thuộc đối tượng bảo hộ thì cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này hủy bỏ hiệu
lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền
liên quan.
3. Tổ chức, cá nhân phát hiện việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác
giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trái với quy định của Luật này thì
có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan hủy
bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký
quyền liên quan.
4. Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các
văn bản sau đây, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ hiệu lực Giấy
chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan:
a) Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại
Điều 200. của Luật này về việc hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền
tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan;
b) Văn bản của tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền
tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan đề nghị hủy bỏ hiệu lực Giấy
chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan đã
được cấp.
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 27
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
17. Sửa đổi, bổ sung tên Chương VI trong Phần thứ hai như sau:
“Chương VI
TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN TẬP THỂ, TƯ VẤN, DỊCH VỤ QUYỀN TÁC GIẢ,
QUYỀN LIÊN QUAN”.
18. Sửa đổi, bổ sung Điều 56 như sau:
“Điều 56. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan
1. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là tổ chức tự
nguyện, tự bảo đảm kinh phí hoạt động, không vì mục đích lợi nhuận do các tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận thành lập,
hoạt động theo quy định của pháp luật để thực hiện ủy thác quyền tác giả, quyền
liên quan, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về hoạt
động đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện các hoạt
động sau đây theo ủy quyền bằng văn bản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả,
chủ sở hữu quyền liên quan:
a) Thực hiện việc quản lý quyền tác giả, quyền liên quan; đàm phán cấp phép,
thu và phân chia tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác từ việc cho phép khai
thác các quyền được ủy quyền;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên; tổ chức hòa giải khi có
tranh chấp.
3. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có các quyền và
nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, điều hành của tổ
chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền; tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền;
tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng;
b) Xây dựng danh mục tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền
liên quan đã ủy quyền; tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương
trình phát sóng mà tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan đang
quản lý; phạm vi ủy quyền; hiệu lực hợp đồng ủy quyền; kế hoạch và kết quả hoạt
động thu, phân chia tiền bản quyền;
28 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
c) Xây dựng biểu mức và phương thức thanh toán tiền bản quyền, trình Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch phê duyệt biểu mức và phương thức thanh toán tiền bản quyền căn
cứ vào các nguyên tắc quy định tại khoản 3 Điều 44a của Luật này;
d) Thu, phân chia tiền bản quyền theo quy định tại điều lệ của tổ chức và văn
bản ủy quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có
thỏa thuận về mức hoặc tỷ lệ phần trăm, phương thức và thời gian phân chia tiền
bản quyền; theo nguyên tắc công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật.
Việc thu, phân chia tiền bản quyền từ các tổ chức tương ứng của nước ngoài
hoặc tổ chức quốc tế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối;
đ) Được giữ lại một khoản tiền trên tổng số tiền bản quyền thu được để chi cho
việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức trên cơ sở thỏa thuận của tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã ủy quyền. Mức tiền giữ lại được điều
chỉnh trên cơ sở thỏa thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu
quyền liên quan đã ủy quyền và có thể được xác định bằng tỷ lệ phần trăm trên
tổng số tiền thu được;
e) Phân chia tiền bản quyền thu được từ việc cấp phép khai thác, sử dụng cho
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan sau khi trừ chi phí
quy định tại điểm đ khoản này;
g) Báo cáo hằng năm và đột xuất về hoạt động đại diện tập thể cho cơ quan
nhà nước có thẩm quyền; chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền;
h) Được thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển văn hóa, khuyến khích sáng
tạo và các hoạt động xã hội khác;
i) Hợp tác, ký kết các thỏa thuận đại diện có đi có lại với các tổ chức tương
ứng của tổ chức quốc tế và của các quốc gia trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền
liên quan;
k) Thiết lập cơ cấu tổ chức bộ máy của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả,
quyền liên quan, bảo đảm các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền
liên quan đã ủy quyền được quyền ứng cử, bầu cử vào các chức danh lãnh đạo,
quản lý, kiểm soát của tổ chức.
4. Trường hợp tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có liên
quan đến quyền và lợi ích của nhiều tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 29
liên quan được ủy quyền quản lý, các tổ chức có thể thỏa thuận để một tổ chức
thay mặt đàm phán cấp phép sử dụng, thu và phân chia tiền bản quyền theo điều lệ
của tổ chức và văn bản ủy quyền.
5. Trường hợp tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan sau năm
năm tìm kiếm để phân chia tiền bản quyền thu được mà vẫn không tìm thấy hoặc
không liên lạc được với tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu
quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan
đã ủy quyền thì bàn giao khoản tiền này về cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản
lý sau khi trừ chi phí quản lý, tìm kiếm theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Sau khi nhận bàn giao, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục thông báo tìm
kiếm trong thời hạn năm năm. Kết thúc thời hạn này, nếu cơ quan nhà nước có thẩm
quyền vẫn không thể tìm thấy hoặc không liên lạc được với tác giả, đồng tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu quyền tác
giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan, người có quyền và nghĩa vụ liên quan theo
quy định của pháp luật thì khoản tiền này được sử dụng vào các hoạt động khuyến
khích sáng tạo, tuyên truyền và đẩy mạnh thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên
quan. Trong các thời hạn nêu trên, khi tìm thấy hoặc liên lạc được với tác giả, đồng
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, đồng chủ sở hữu
quyền tác giả, đồng chủ sở hữu quyền liên quan, người có quyền và nghĩa vụ liên
quan theo quy định của pháp luật thì khoản tiền này sau khi trừ chi phí quản lý, tìm
kiếm được chi trả cho những người nêu trên theo quy định của pháp luật.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
19. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 60 như sau:
“1. Sáng chế được coi là có tính mới nếu không thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ
hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký
sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được
hưởng quyền ưu tiên;
b) Bị bộc lộ trong đơn đăng ký sáng chế khác có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu
tiên sớm hơn nhưng được công bố vào hoặc sau ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên
của đơn đăng ký sáng chế đó.”.
30 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
20. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 72 như sau:
“1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,
hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều
màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa;”.
21. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 73 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với Quốc kỳ, Quốc huy,
Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và của các nước, quốc tế ca;”;
b) Bổ sung khoản 6 và khoản 7 vào sau khoản 5 Điều 73 như sau:
“6. Dấu hiệu là hình dạng vốn có của hàng hóa hoặc do đặc tính kỹ thuật của
hàng hóa bắt buộc phải có;
7. Dấu hiệu chứa bản sao tác phẩm, trừ trường hợp được phép của chủ sở hữu
tác phẩm đó.”.
22. Sửa đổi, bổ sung một số điểm của khoản 2 Điều 74 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung các điểm a, b và c như sau:
“a) Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc ngôn ngữ
không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận
rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu trước ngày nộp đơn;
b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ, tên gọi thông thường của hàng hóa,
dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào, hình dạng thông thường của hàng hóa hoặc một
phần của hàng hóa, hình dạng thông thường của bao bì hoặc vật chứa hàng hóa đã
được sử dụng thường xuyên và thừa nhận rộng rãi trước ngày nộp đơn;
c) Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số
lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác
mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ hoặc dấu hiệu làm gia tăng giá trị đáng kể cho
hàng hóa, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua
quá trình sử dụng trước ngày nộp đơn;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm đ và điểm e như sau:
“đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu
hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu trước
ngày nộp đơn hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu
chứng nhận quy định tại Luật này;
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 31
e) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của tổ
chức, cá nhân khác được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ
sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn
đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo
điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trừ
trường hợp đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại điểm d
khoản 1 Điều 95 hoặc bị hủy bỏ hiệu lực theo quy định tại Điều 96 theo thủ tục
quy định tại điểm b khoản 3 Điều 117 của Luật này;”;
c) Sửa đổi, bổ sung điểm h và điểm i như sau:
“h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của tổ
chức, cá nhân khác đã được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà
đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá ba năm, trừ trường hợp đăng
ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95
theo thủ tục quy định tại điểm b khoản 3 Điều 117 của Luật này;
i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi
là nhãn hiệu nổi tiếng của người khác trước ngày nộp đơn đăng ký cho hàng hóa,
dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc
đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có
thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng
ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;”;
d) Sửa đổi, bổ sung điểm n và bổ sung điểm o, điểm p vào sau điểm n như sau:
“n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp
của người khác đã hoặc đang được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công
nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu
tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu;
o) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên giống cây
trồng đã hoặc đang được bảo hộ tại Việt Nam nếu dấu hiệu đó đăng ký cho hàng
hóa là giống cây trồng cùng loài hoặc thuộc loài tương tự hoặc sản phẩm thu hoạch
từ giống cây trồng;
p) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên gọi, hình ảnh
của nhân vật, hình tượng trong tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả của
người khác đã được biết đến một cách rộng rãi trước ngày nộp đơn, trừ trường hợp
được phép của chủ sở hữu tác phẩm đó.”.
32 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
23. Sửa đổi, bổ sung đoạn mở đầu của Điều 75 như sau:
“Việc xem xét, đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng được lựa chọn từ một số
hoặc tất cả các tiêu chí sau đây:”.
24. Sửa đổi, bổ sung Điều 79 như sau:
“Điều 79. Điều kiện chung đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
1. Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương,
vùng lãnh thổ hoặc quốc gia tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
b) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ
yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia
tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.
2. Chỉ dẫn địa lý đồng âm đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này
được bảo hộ nếu chỉ dẫn địa lý đó được sử dụng trên thực tế theo cách thức không
gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý của sản phẩm mang chỉ dẫn
địa lý và bảo đảm nguyên tắc đối xử công bằng giữa các tổ chức, cá nhân sản xuất
sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.”.
25. Sửa đổi, bổ sung Điều 86 và bổ sung Điều 86a vào sau Điều 86 như sau:
“Điều 86. Quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1. Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí:
a) Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bằng công sức
và chi phí của mình;
b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình
thức giao việc, thuê việc, tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn gen cung cấp
nguồn gen, tri thức truyền thống về nguồn gen theo hợp đồng tiếp cận nguồn gen
và chia sẻ lợi ích, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc trường hợp quy
định tại Điều 86a của Luật này.
2. Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thì các tổ chức, cá nhân đó đều có
quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ
chức, cá nhân đó đồng ý.
3. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký quy định tại Điều này có quyền chuyển
giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 33
bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp đã nộp
đơn đăng ký.
Điều 213. Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ
1. Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm
hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý, hàng hóa sao chép
lậu quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
2. Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn
hiệu hoặc dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến
mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó
mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.
3. Hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn
dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó
phân biệt với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó và việc
gắn dấu hiệu này được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân không có quyền sử dụng chỉ
dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này hoặc theo pháp luật
của nước xuất xứ của chỉ dẫn địa lý đó.
4. Hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của
chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan.
CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022 67
Điều 214. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc
phục hậu quả
1. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định
tại khoản 1 Điều 211 của Luật này bị áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp
khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Ngoài các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phân phối
hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo
về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản
xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh
hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và đáp ứng
các điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.
3. Mức phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính.”.
80. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 216 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp được tiến hành trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin,
chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền yêu cầu xử lý
hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
hoặc các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính;
b) Cơ quan hải quan chủ động thực hiện nếu trong quá trình thực hiện kiểm tra,
giám sát và kiểm soát phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.”;
b) Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 như sau:
“5. Chính phủ quy định chi tiết điểm b khoản 2 Điều này.”.
81. Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 218 như sau:
68 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
“4. Trong trường hợp cơ quan hải quan chủ động tạm dừng làm thủ tục hải
quan, cơ quan hải quan phải thông báo ngay cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nếu có
thông tin liên hệ và cho người nhập khẩu hoặc người xuất khẩu về việc tạm dừng.
Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày thông báo, nếu chủ thể quyền
sở hữu trí tuệ không khởi kiện dân sự và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý
vụ việc theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan hải quan có trách nhiệm
tiếp tục làm thủ tục hải quan cho lô hàng.”.
82. Thay, bỏ từ, cụm từ tại một số điều sau đây:
a) Thay cụm từ “tác phẩm tạo hình” bằng cụm từ “tác phẩm mỹ thuật” tại điểm g
khoản 1 Điều 14;
b) Thay cụm từ “cuộc biểu diễn” bằng cụm từ “quyền liên quan” và bỏ cụm từ
“khoản 1” tại khoản 2 Điều 16;
c) Thay cụm từ “Điều 86” bằng cụm từ “Điều 86, Điều 86a” tại khoản 3 Điều 60,
khoản 4 Điều 65 và khoản 2 Điều 71;
d) Thay cụm từ “lệ phí duy trì hiệu lực” bằng cụm từ “phí, lệ phí để duy trì
hiệu lực” tại khoản 1 Điều 94;
đ) Thay cụm từ “lệ phí gia hạn hiệu lực” bằng cụm từ “phí, lệ phí để gia hạn
hiệu lực” tại khoản 2 Điều 94;
e) Thay từ “lệ phí” bằng cụm từ “phí, lệ phí” tại khoản 3 Điều 94;
g) Thay cụm từ “lệ phí nộp đơn” bằng cụm từ “phí, lệ phí” tại điểm c khoản 1
Điều 1. của Luật này;
d) Quy định tại Điều 118 của Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung theo
khoản 43 Điều 1 của Luật này được áp dụng cho các đơn đăng ký sở hữu công
nghiệp chưa có thông báo kết quả thẩm định nội dung trước ngày Luật này có hiệu
lực thi hành.
4. Quy định tại các điều 86, 86a, 133a, 135, 136a, 139, 164, 191, 191a, 191b
và 194 của Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung theo các khoản 25, 52, 53,
54, 55, 66, 74 và 75 Điều 1 của Luật này đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí, giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử
dụng ngân sách nhà nước được áp dụng đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ
được giao kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
5. Quyền và nghĩa vụ đối với kiểu dáng công nghiệp là bộ phận của sản phẩm
lắp ráp thành sản phẩm phức hợp theo văn bằng bảo hộ đã được cấp trên cơ sở đơn
đăng ký trước ngày 01 tháng 8 năm 2020 được áp dụng theo quy định của pháp
luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Căn cứ hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ được áp dụng theo quy định của pháp
luật có hiệu lực đối với việc xét cấp văn bằng bảo hộ đó.
74 CÔNG BÁO/Số 573 + 574/Ngày 16-7-2022
6. Cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hành nghề theo
Chứng chỉ đã được cấp. Cá nhân đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra về nghiệp vụ đại diện
sở hữu công nghiệp do cơ quan có thẩm quyền tổ chức trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12 và Luật số 42/2019/QH14.
7. Đơn đăng ký bảo hộ quyền đối với giống cây trồng đã nộp cho cơ quan có
thẩm quyền trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục xử lý theo quy
định của pháp luật có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn. Cá nhân được cấp Chứng chỉ
hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành được tiếp tục hành nghề theo Chứng chỉ đã được cấp.
8. Các vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được cơ quan có thẩm
quyền thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa giải quyết
xong thì tiếp tục áp dụng quy định của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12 và Luật số
42/2019/QH14 để giải quyết.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV,
kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2022./.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Vương Đình Huệ
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.