CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 05 tháng 5 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang, xét xử
và làm giấy hẹn trong 01 năm. Nhưng đến nay vẫn không trả, anh T1 đi nơi khác
làm ăn, thỉnh thoảng có kêu người đóng cua, ghẹ gửi đi. Nay yêu cầu anh T1, chị G
trả lại cho vợ chồng ông số tiền đã mượn 55.000.0000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
[2]- Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 và chị Huỳnh Hồng G vắng mặt trong suốt
quá trình Toà án giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.
[3]- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng H trình bày:
Tiền cho mượn là của vợ chồng bà, thống nhất như lời trình bày của ông T, yêu cầu
anh T1, chị G trả lại cho vợ chồng bà số tiền đã mượn 55.000.0000 đồng, không yêu
cầu trả lãi.
[4]- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ
của mình khi tham gia tố tụng. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ 02 lần để tham
gia phiên toà nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xử
vắng mặt là đúng quy định. Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông T, bà H, buộc bị đơn
trả số tiền vay 55.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông T, bà H có cho anh T1, chị G vay tiền, nay xảy ra tranh chấp nên xác
định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã giải thích các trường
hợp được trợ giúp pháp lý miễn phí, nhưng không ai thuộc trường hợp được trợ giúp
pháp lý miễn phí.
Anh T1, chị G đã được Toà án triệu tập hợp lệ (bằng hình thức niêm yết văn
bản) để hoà giải và tham gia phiên toà nhưng đều vắng mặt nên vụ án không hoà
giải được theo Điều 207 và Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng
dân sự xét xử vắng mặt anh T1, chị G.
3
[2] Ông T khởi kiện yêu cầu anh T1, chị G trả cho vợ chồng ông số tiền
55.000.000 đồng, có cung cấp tài liệu, chứng cứ là giấy mượn nợ ghi ngày
10/01/2023, số tiền 55.000.000 đồng, thời hạn một năm.
Ông T yêu cầu có cung cấp tài liệu, chứng cứ, phía bị đơn không có ý kiến
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.