Điều 52. ; Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị
cáo Ly Mí C1 10 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và án phí đối với các bị cáo: Nhất trí quan điểm Kiểm
sát viên đề nghị.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa nhất trí với quan điểm bào chữa của người
bào chữa đề nghị, không có bổ sung gì, không có tranh luận đối đáp gì với Kiểm
sát viên.
-- 5 of 10 --
6
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa thực hiện nói lời sau cùng xin HĐXX cho
các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa vắng mặt bị cáo Chảo Cù C, vắng mặt người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vẫn Chỉn T đều có đơn xin xét xử vắng mặt;
vắng mặt người làm chứng anh Mua Mí P1 không có lý do, tại phiên tòa các bị
cáo, người bào chữa, Kiểm sát viên đồng ý xét xử; trong hồ sơ cơ quan điều tra
đã tiến hành lấy lời khai nên không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án;
căn cứ Điều 290, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự,
HĐXX xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều
tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bào
chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không
có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan và người
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của
pháp luật.
[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai của các bị cáo tại
phiên tòa phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu, với lời khai của các bị cáo tại
Cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội
đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 19 giờ 00 phút đến 19
giờ 15 phút ngày 03/02/2026, tại nhà ở của ông Vẫn C thuộc thôn T, xã B, tỉnh
Tuyên Quang, các bị cáo Lý A Đ, Chảo Cù C, Ly Mí C1, Mua Dũng P đang sử
dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài thực hiện hành vi đánh bạc được thua
bằng tiền mặt dưới hình thức chơi ba cây thì bị lực lượng chức năng phát hiện
bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng), thu giữ
trên người các bị cáo 32.150.000đ (Ba mươi hai triệu một trăm năm mươi nghìn
đồng). Tổng số tiền thu giữ được là 33.050.000 VNĐ (Ba mươi ba triệu không
trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền này các bị cáo thừa nhận sử dụng để đánh
bạc. Như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo đã phạm tội
Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung
năm 2017, 2025.
Khoản 1 Điều 321 BLHS quy định:
“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng
tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …… thì bị
phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam
giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[4] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi
phạm tội mà các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít
-- 6 of 10 --
7
nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã
hội, gây mất trật tự trị an và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo
có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi đánh bạc
được thua bằng tiền mặt là vi phạm pháp luật nhưng vì ham muốn thu lời bất
chính, sát phạt lẫn nhau vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do
đó cần xử phạt một mức án nghiêm minh nhằm giáo dục các bị cáo nói riêng và
phòng ngừa chung.
[5] Khi quyết định hình phạt, HĐXX cân nhắc, xem xét nhân thân, các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo Đ, C, P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá
trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội
lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo. Các bị cáo không có tiền án,
tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, đều là lao động chính trong gia đình, sinh sống ở
vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo Đ thuộc diện hộ cận
nghèo, bị cáo C thuộc diện hộ nghèo, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật
còn hạn chế, bị cáo C có nhân thân tốt, bị cáo Đ và P mặc dù đã từng bị xử phạt
vi phạm hành chính nhưng đã chấp hành xong quyết định xử phạt và đến thời
điểm phạm tội được coi là không có tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không nhất thiết
phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo theo quy định tại
Điều 65. BLHS và hướng dẫn tại Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 02/2018/NQ-
HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng
đảm bảo răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.
Đối với bị cáo C1 ngày 18/01/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang (nay
là Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang) xử phạt 15 năm tù về tội Mua bán người
và tội Mua bán trẻ em (chưa được xóa án tích) nên có 01 tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật
hình sự. Bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái
độ coi thường pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời
gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung. Tuy
nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải, bản thân bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó
khăn, thuộc diện hộ nghèo, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế
nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm
s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của BLHS. Do đó, HĐXX cũng cân nhắc giảm nhẹ
một phần hình phạt đối với bị cáo.
[6] Vai trò phạm tội: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản
đơn, mang tính bột phát, không có người tổ chức, không có sự phân công nhiệm
vụ, cấu kết chặt chẽ với nhau khi phạm tội. Tuy các bị cáo đều tham gia với vai
trò người thực hành nhưng với mức độ nguy hiểm khác nhau:
Bị cáo Đ là người khởi xướng rủ rê các bị cáo khác tham gia đánh bạc; bị
cáo C tiếp nhận ý chí của Đ và sử dụng số tiền tham gia đánh bạc lớn nhất nên
-- 7 of 10 --
8
hai bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo còn lại.
Bị cáo P và bị cáo C1 đều tiếp nhận ý chí của Đ và trực tiếp tham gia đánh
bạc tuy nhiên bị cáo P sử dụng số tiền tham gia đánh bạc lớn hơn nên phải chịu
trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo C1.
[7] Biện pháp ngăn chặn: Các bị cáo Đ, C, P bị phạt tù nhưng được hưởng
án treo nên không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
theo quy định tại Điều 125, Điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với bị cáo C1
cần tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú để đảm bảo cho việc thi
hành án theo quy định tại Điều 123, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động tự do không có thu
nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý các vật
chứng không liên quan đến việc phạm tội, trả lại cho các chủ sở hữu 01 (một)
điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen; 01 (một)
điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, A, màu
vàng; 01 (một) xe máy nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE A, màu sơn: Xám,
biển kiểm soát: 23AA-398.02 và 02 (hai) điện thoại di động màn hình cảm ứng
(01 điện thoại nhãn hiệu Vivo, màu xanh và 01 điện thoại nhãn hiệu
SAMSUNG, màu vàng); 01 (một) xe máy nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE
RSX FI, màu sơn: Đỏ đen, biển kiểm soát: 23M1-186.20 và 02 (hai) điện thoại
di động màn hình cảm ứng (01 điện thoại màu đen, mặt sau có chữ “C” và 01
điện thoại nhãn hiệu REDMI, màu đen); 01 (một) xe máy nhãn hiệu:
YAMAHA, số loại: JUPITER, màu sơn: Đen Bạc, biển kiểm soát: 17B1-628.24
là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với T4 32.150.000đ (Ba mươi hai triệu một trăm năm mươi nghìn
đồng) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung ngân
sách nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 vỏ bộ tú lơ khơ, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài và 01
chiếu nhựa nhiều màu sắc là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[10] Trong vụ án có một số hành vi, đối tượng có liên quan:
[10.1] Đối với ông Vẫn Chỉn T là chủ sở hữu ngôi nhà nơi các bị cáo đánh
bạc nhưng ông T không cho phép, không biết việc các bị cáo đánh bạc tại nhà
mình cũng như không được hưởng lợi gì từ việc đánh bạc của các bị cáo nên
không có căn cứ xử lý về tội Tổ chức đánh bạc, HĐXX không xem xét.
[10.2] Đối với Mua Mí P1 không tham gia đánh bạc mà chỉ ngồi xem các bị
cáo đánh bạc, không được hưởng lợi gì từ việc đánh bạc nên không có cơ sở để
xử lý hình sự. Do đó, HĐXX không xem xét.
[11] Về án phí: Các bị cáo đều sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã
hội đặc biệt khó khăn, bị cáo Đ thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo C và bị cáo C1
thuộc diện hộ nghèo và đều có đơn xin miễn án phí, Hội đồng xét xử miễn toàn
bộ án phí cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
[12] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên đề
nghị về hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
-- 8 of 10 --
9
[13] Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị về hình phạt là phù hợp,
HĐXX chấp nhận.
[14] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lý A Đ; Chảo Cù C; Ly Mí C1; Mua Dũng P
phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1
khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 BLHS (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).
Xử phạt bị cáo Lý A Đ 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử
thách là 28 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Chảo Cù C 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian
thử thách là 28 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Mua D Páo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian
thử thách là 24 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Lý A Đ, Chảo Cù C cho Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Tuyên
Quang giáo dục; Công an xã Y, tỉnh Tuyên Quang giám sát trong thời gian thử
thách.
Giao bị cáo Mua D Páo cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tuyên Quang giáo
dục; Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang giám sát trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định khoản 5