CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcAn Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:
ly thân từ khoảng 01 năm nay. Trong thời gian ly thân chị và chồng không trao
đổi cũng như không thể hàn gắn với nhau được. Nay, sau thời gian dài ly thân chị
xét thấy không thể hàn gắn nên xin được ly hôn, để trả cho cả hai sự tự do, không
ràng buột gì với nhau về sau.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị có 01 con chung là
Trần Thiên P1 – sinh ngày 28/9/2007, con chung hiện tại đang sống cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nguyện vọng: Về quan hệ hôn nhân, chị Lê Thị Hồng P yêu cầu được ly
hôn với anh Trần Văn C; Về con chung, đã trưởng thành nên chị không yêu cầu
giải quyết về con chung; Về tài sản chung, nợ chung: chị P xác định vợ chồng
không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn Anh Trần Văn C không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải
quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định
của pháp luật cho anh C nhưng chị không có mặt cũng không cung cấp bản tự
khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào
của anh C.
Tại biên bản ghi lời khai của người làm chứng ngày 15/01/2026 Người làm
chứng ông Trần Kim S trình bày:
Trước đây được sự giới thiệu của người thân anh Trần Văn C và chị Lê Thị
Hồng P quen biết với nhau một thời gian ngắn thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ
cưới theo phong tục tập quán, đến ngày 09/7/2007 được UBND xã V cấp giấy
chứng nhận kết hôn số 80, quyển số 01. Anh C và chị P chung sống đến năm
2025 thì xảy ra mâu thuẫn, còn mâu thuẫn như thế nào thì tôi không biết. Khoảng
tháng 10/2025 chị P tuyên bố ly hôn và dọn đồ đạc về quê mẹ ở tại V - V, Hậu
Giang ở đến nay. Có mấy lần chị P còn tuyên bố ly hôn và sẽ lấy chồng nước
ngoài vì chê con tôi nghèo. Khi đi chị P dẫn cháu P1 đi về bển (Vị T) ở cho đến
nay.
Về tài sản chung thì có căn nhà cấp 4 cất đậu trên đất của tôi, ngoài ra
không có tài sản nào khác; Về nợ chung tôi nghe nói là vợ chồng tự giải quyết
với nhau và không yêu cầu giải quyết, ngoài ra không có nợ tổ chức tín dụng nào;
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.