CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxét xử 175/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
chị R được ly hôn với anh Điểu N.
Về con chung: có 04 con chung là các cháu Thị Thúy V, sinh năm 2011; Thị
Kim O, sinh năm 2013; cháu Điểu Thị Kim H, sinh năm 2019; cháu Điểu Phúc Â,
sinh năm 2021. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng 02 cháu là Thị Kim O, sinh năm 2013; cháu Điểu Thị Kim H, sinh năm
2019 đến khi các cháu thành niên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; giao cho anh
Điểu N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Thị Thúy V, sinh năm
2011; cháu Điểu Phúc Â, sinh năm 2021 đến khi các cháu thành niên.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn anh Điểu N: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
cho anh N nhưng anh N không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không
giao nộp bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì cho Toà án.
Các tài liệu, chứng cứ: Nguyên đơn nộp tài liệu, chứng cứ như trong hồ sơ vụ
án; ngoài ra không giao nộp gì thêm. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng Thẩm phán,
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội
dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 51, 56, 81, 82,
83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Thị R được ly hôn với anh Điểu N; về con
chung giao cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu là Thị Kim
O; cháu Điểu Thị Kim H cho đến khi các cháu thành niên, giao cho anh trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu Thị Thúy V; cháu Điểu Phúc Â, sinh năm
2021 cho đến khi các cháu thành niên, không đặt ra cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản
chung, nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên
tòa, căn cứ vào lời khai của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của chị Thị R và giấy chứng
nhận đăng ký kết hôn do chị R giao nộp hợp pháp tại Tòa án, xác định được chị Thị
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.