CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúctòa số: 164/2026/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
theo các giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì
trong vụ án này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T vắng mặt nhưng trong văn bản đề nghị xét xử
vắng mặt thì ông T vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện; các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Theo đơn khởi kiện, về hôn nhân, ông T yêu cầu được ly hôn với bà N; về
con chung, tài sản chung, nợ chung, ông T không yêu cầu giải quyết; Tòa án nhân
dân khu vực 10 - Cần Thơ thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật ly hôn là đúng
theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ không
có tiến hành thu thập chứng cứ và vụ án không thuộc các trường hợp khác theo quy
định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 10 - Cần Thơ không tham gia phiên tòa sơ thẩm.
[3] Bị đơn bà N có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã B, thành phố Cần Thơ; Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo
quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm
vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.
[4] Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị Tòa án
xét xử vắng mặt, bà N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên
tòa nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử;
Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến
hành xét xử vụ án.
[5] Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà N là những người có đủ điều kiện kết
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.