CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc30/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2026 giữa:
Về con chung: Ông và bà L có hai con chung là cháu Ngô Triệu V, sinh ngày
21/7/1995 và cháu Ngô Chí T, sinh ngày 21/7/2000. Cháu V và cháu T đã thành niên tự lo
được cuộc sống nên ông không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung tự thoả thuận, nợ chung không có nên ông không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa
hôm nay bị đơn bà L vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ
luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà L.
2
[2] Về hôn nhân: Ông Ngô Văn H và bà Phạm Hồng L chung sống với nhau như vợ
chồng từ năm 1994, nhưng không đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống thời gian
gần đây hai người xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có sự
quan tâm tôn trọng nhau, thường xuyên xảy ra cự cãi, chung sống không có hạnh phúc nên
hai người đã sống ly thân là thực tế có diễn ra. Điều này phù hợp với nội dung đơn xin xác
nhận không đăng ký kết hôn của ông H có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã NP (nơi hai
bên cư trú) về việc ông H và bà L chung sống không có đăng ký kết hôn. Kể từ khi chung
sống đến nay, ông H và bà L có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng hai người không thực
hiện đăng ký kết hôn theo quy định, quan hệ hôn nhân của hai người chưa tuân thủ quy định
về đăng ký kết hôn, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Theo Điều 53
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn
mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo
quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Từ quy định trên, không công nhận quan hệ
giữa ông H và bà L là vợ chồng.
[3] Về con chung: Ông H và bà L có hai con chung là cháu Ngô Triệu V, sinh ngày
21/7/1995 và cháu Ngô Chí T, sinh ngày 21/7/2000. Cháu V và cháu T đã thành niên tự lo
được cuộc sống nên không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Ông H và bà L không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét
giải quyết.
[5] Về án phí: Ông H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.