CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcán ra xét xử số 96/2026/QĐXXST – HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2026 và quyết
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị L và anh Vi Văn Chung kết H tự
nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/05/2019 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện
Q, tỉnh Nghệ An (Sau sáp nhập nay là xã Q, tỉnh Nghệ An). Trong cuộc sống
chung do quan điểm sống, tính tình không hợp nên thường xuyên xảy ra mâu
thuẫn. Nay nhận thấy mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ
chồng không thể kéo dài vì vậy chị Lương Thị L yêu cầu được ly hôn với anh Vi
Văn C.
2
Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau, chị Lương Thị L và anh
Vi Văn C có một con chung là Vi Thị Phương M, sinh ngày 22/12/2020. Giải
quyết ly hôn chị Lương Thị L đồng ý giao con chung cho anh Vi Văn C trực tiếp
trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng, đồng thời tạm hoãn nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung đối với chị L.
Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện và ý kiến trình bày trong quá trình giải
quyết vụ án chị Lương Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại nội dung bản tự khai – trình bày của cá nhân ngày 11/4/2026 bị đơn anh
Lương Văn L1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị L và anh Vi Văn Chung kết H tự
nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An
(Nay là xã Q, tỉnh Nghệ An) vào năm 2019. Trong thời gian chung sống giữa vợ
chồng tuy có thỉnh thoảng xảy ra xích mích, mâu thuẫn nhỏ nhưng chưa đến mức
phải ly hôn, do đó anh Vi Văn C không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh Vi Văn C và chị Lương Thị L có một con chung tên là Vi
Thị Phương M, sinh ngày 22/12/2020. Nếu giải quyết ly hôn anh Vi Văn C có
nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến tuổi trưởng
thành (đủ 18 tuổi) và không có yêu cầu gì khác.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tòa án đã ban hành các thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập cho bị đơn Vi Văn C
nhưng anh C không đến Tòa án làm việc. Vì vậy Tòa án đã lập biên bản không tiến
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.