CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxử số: 33/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
2
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Đ1, sinh ngày 14
tháng 4 năm 2016 (nam). Con chung hiện đang sống cùng với bà Đ nên khi ly hôn
bà Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Bình D trình bày:
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Bình D xác định lời trình bày của bà Đ về thời
điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng là đúng toàn bộ.
Quá trình chung sống vợ chồng ông thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng
quan điểm trong cuộc sống. Hiện nay ông D và bà Đ đã sống ly thân, ông xác định
tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với bà Đ.
- Về con chung: Có 01 người con chung đúng như bà Đ trình bày. Hiện con
đang sống chung với bà Đ nên khi ly hôn ông D đồng ý giao con chung cho bà Đ
tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Ngọc Đ yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn
Bình D nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp xin ly hôn” quy định tại
khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Ông D cư trú tại Ấp C, xã Đ, tỉnh Cà
Mau nên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án này
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Cà Mau.
Bà Trần Thị Ngọc Đ và ông Nguyễn Bình D có đơn xin vắng mặt nên căn cứ
khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Đ, ông D là phù hợp.
[2]. Về nội dung:
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc Đ và ông Nguyễn Bình D tự nguyện kết
hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.