CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc29/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2026 giữa:
Về con chung: Vợ chồng có hai con cH là cháu Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1999 và
cháu Huỳnh Văn HH, sinh năm 1999. Cháu Đ và cháu HH đã thành niên tự lo được cuộc
sống nên bà không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung tự thoả thuận, nợ chung không có nên bà không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa
hôm nay bị đơn ông H vắng mặt không có lý do, nguyên đơn bà Đ có đơn xin vắng mặt.
2
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét
xử vắng mặt đối với ông H và bà Đ.
[2] Về hôn nhân: Bà Trương Thị Đ và ông Huỳnh Văn H chung sống với nhau có
đăng ký kết hôn vào ngày 17/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà
Mau (nay là Uỷ ban nhân dân xã T, tỉnh Cà Mau). Quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông H
được xác lập hợp pháp, hai người tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định.
Sau khi kết hôn, bà Đ và ông H chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu
thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có sự quan tâm tôn trọng nhau, chung
sống không có hạnh phúc nên hiện nay vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay là
thực tế có diễn ra. Kể từ khi xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân đến nay với thời gian dài mà
hai bên không thể dàn xếp, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án
tổ chức hòa giải để hai bên thoả thuận hàn gắn nhưng không có kết quả, do ông H không
tham gia hòa giải và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà Đ. Từ những vấn đề
đã nêu, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông H đã xảy ra mâu thuẫn trầm
trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được nên giải quyết cho hai người được ly hôn là phù hợp. Vì vậy, bà Đ khởi
kiện yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: Bà Đ và ông H có hai con cH là cháu Huỳnh Văn Đ, sinh năm
1999 và cháu Huỳnh Văn HH, sinh năm 1999. Cháu Đ và cháu HH đã thành niên tự lo được
cuộc sống nên không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Bà Đ và ông H không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.