CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử số: 89/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2026,
2
sống dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Chị đã đưa con về nhà ngoại ở từ
tháng 8/2025 đến nay. Chị xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống,
tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn
anh T.
* Về con chung: Chị và anh T có một con chung là cháu Nguyễn Xuân P,
sinh ngày 01/7/2020. Hiện nay con chung đang ở với chị và mẹ đẻ chị là bà Sử
Thị C, sinh năm 1960 tại ngôi nhà được xây dựng trên thửa đất đứng tên mẹ đẻ
chị đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khu B, xã H,
tỉnh Phú Thọ.
Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung,
không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang làm công nhân, thu
nhập hàng tháng trung bình 11.000.000đ (Mười một triệu đồng), đủ đảm bảo các
điều kiện nuôi dạy con chung.
* Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị không đề
nghị Tòa án giải quyết.
* Về án phí: Chị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
* Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian và điều kiện kết hôn như H trình
bày là đúng. Từ tháng 7/2025 giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất
đồng quan điểm sống. Sau đó chị H đã đưa con về nhà bà ngoại ở, vợ chồng anh
chị sống ly thân từ đó đến nay. Anh đã nhiều lần liên hệ gặp chị H để hóa giải
mâu thuẫn vợ chồng để vợ chồng về đoàn tụ nuôi dạy con cái nhưng chị H
không cho anh gặp nói chuyện. Anh cũng nhờ mẹ đẻ chị H tác động giúp nhưng
không được. Những mẫu thuẫn giữa anh và chị H chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong
cuộc sống hàng ngày. Nay tại phiên tòa, anh thay đổi quan điểm là nhất trí ly
hôn với chị H.
* Về con chung: Anh và chị H có một con chung là Nguyễn Xuân P, sinh
ngày 01/7/2020. Do hai gia đình chỉ cách nhau 6km, mặc dù chị H đã đưa con về
nhà ngoại ở nhưng anh vẫn thường xuyên đón đưa con đi học, đóng học cho con
đầy đủ.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.