CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 25 tháng 02 năm 2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Lê Ngọc T1 và chị Lê Thị Thanh X do bà Bùi Thị P là đại diện theo uỷ quyề n
trình bày:
Cụ Lê Ngọc U và cụ Bùi Thị T quê ở thôn Đ, xã Đ1, huyện P, tỉnh Hưng
Yên. Hai cụ công tác, sinh sống và chết tại tỉnh Lạng Sơn. Cụ U và cụ T có một
người con duy nhất là ông Lê Ngọc H là chồng của bà Bùi Thị P. Năm 1973, cụ U
1 Án lệ này do Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
2
về quê xin Uỷ ban nhân dân xã Đ1 cấp cho 01 thửa đất ở diện tích 1.079m2 tại
thôn Đ, xã Đ1, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Năm 1976, ông H về quê xây một ngôi
nhà ba gian mái bằng, một gian gác và toàn bộ công trình phụ gồm bếp, giếng,
nhà tắm, nhà vệ sinh trên thửa đất trên để cho cụ U và cụ T khi đó đã nghỉ hưu về
quê ở. Cụ U và cụ T ở tại nhà đất đó một thời gian thì chuyển vào trong làng tại
nhà, đất của bố mẹ cụ T để lại. Năm 1977, cụ Lê Ngọc C1 là em trai của cụ U
mượn nhà, đất trên cho con trai là ông Lê Ngọc T2 ở nhờ.
Năm 1985, bà P kết hôn với ông H, khi đó cụ U, cụ T và ông H đề u ở tại 53 C,
phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 22-01-1994, cụ T chết và ngày 20-12-1995 cụ U chết đề u không để
lại di chúc (hai cụ đề u chết tại Lạng Sơn). Theo bà P trình bày thì trước lúc cụ T
qua đời có giao cho bà P giữ tờ giấy xã giao đất cho cụ U ở thôn Đ năm 1973,
nhưng năm 2008 xảy ra trận lũ lịch sử ở Lạng Sơn, nhà bà P bị ngập nước nên
toàn bộ giấy tờ cá nhân đề u bị hư hỏng hết.
Năm 2008, ông Lê Ngọc T2 lên Lạng Sơn gặp ông H đề nghị viết giấy uỷ
quyề n để ông T2 nhận tiề n bồi thường do Nhà nước thu hồi đất để mở đường 38B.
Tháng 6-2009, ông H chết không để lại di chúc nhưng có dặn lại mẹ con bà P về
quê đòi lại nhà, đất cho ông T2 mượn.
Bà P và các con đề nghị gia đình ông T2 trả lại toàn bộ nhà, đất và
398.638.000 đồng tiề n đề n bù khi Nhà nước thu hồi đất năm 2008.
Bị đơn là ông Lê Ngọc T2 trình bày:
Thửa đất gia đình ông đang quản lý, sử dụng là do bố ông là cụ Lê Ngọc C1
nhờ cụ Lê Ngọc U (là anh cụ C1) đứng tên xin hộ từ năm 1974, nhưng trên thực
tế thì bố ông là người trực tiếp nhận đất. Năm 1975, bố ông cho vợ chồng ông ra
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.