CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxử số: 09/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Điều 227. , Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng
mặt các đương sự theo quy định của pháp luật. [3] Quá trình giải quyết vụ án, chỉ có nguyên đơn cung cấp tài liệu chứng cứ. Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào những tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp và toà án thu thập để giải quyết vụ án. [4] Về hôn nhân: Anh chị tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Cà Mau vào năm 2015 đúng theo quy định tại
Điều 9. của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị được
pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, không tự hoà giải được với nhau. Chị N nộp đơn ly hôn, anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tuy là vợ chồng nhưng anh chị hiện sống ly thân một thời gian dài, điều đó có thể chứng minh tình trạng hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh T. [5] Về con chung: Anh chị có một người con chung Trịnh Quốc Đ, sinh ngày 27 tháng 01 năm 2012 hiện đang sống với anh T. Xét thấy trong thời gian anh chị sống ly thân, cháu Đ vẫn được anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo các điều kiện để cháu được phát triển bình thường; chị N yêu cầu giao con cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, việc tiếp tục giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng 3 là phù hợp với sự phát triển và môi trường sống ổn định vốn có của cháu; mặt khác, anh T không có ý kiến phản đối yêu cầu giao con chung này của nguyên đơn nên yêu cầu của chị N là có căn cứ. Áp dụng khoản 02 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Đ cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con, anh T không có ý kiến hay yêu cầu liên quan đến cấp dưỡng trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng trong vụ án này. Trường hợp có phát sinh tranh chấp liên quan đến người trực tiếp nuôi con, về nghĩa vụ cấp dưỡng thì các bên có quyền khởi kiện trong một vụ án khác. [6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định chị và anh T không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có phát sinh về tài sản chung, nợ chung thì các bên có quyền khởi kiện thành một vụ án khác theo quy định pháp luật. [7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, anh T không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Trịnh Phát T.
2. Về con chung: Giao con chung Trịnh Quốc Đ, sinh ngày 27 tháng 01 năm
2012 cho anh Trịnh Phát T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và
gia đình, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số 0004221 ngày 13 tháng 4 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 4 nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
anh T tiếp tục nuôi dưỡng, yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con.
2
Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Do bận công việc riêng không tham dự phiên toà, chị yêu cầu toà án tiến hành
xét xử vụ án vắng mặt chị.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng
cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng anh T không có văn bản thể hiện ý
kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu,
chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu được ly hôn với bị đơn là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân
sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã K, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được tòa án triệu tập xét xử hợp lệ những
vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt; căn cứ theo
Điều 30. Luật Thi hành án dân sự
Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 3 – Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 3 – Cà Mau; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - UBND xã Khánh Bình (ĐKKH số: 224/2015); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hợp
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.