CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 24 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử
26.936,5m2 (trên đất có trồng cây sầu riêng 02 năm tuổi) thuộc thửa đất 234, tờ bản
đồ 05 xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước của ông Đặng Văn T và bà Nguyễn Thị D1
với giá 2.400.000.000 đồng. Thửa đất trên đã được UBND huyện B, tỉnh Bình Phước
2
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01188 vào ngày 13/7/2021 cho ông
Lê Minh N1 và bà Lý Thị H, đến ngày 17/01/2022, chỉnh lý sang tên ông T và bà
D1.
Ngày 12/6/2025, hai bên đã lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất
với số tiền 400.000.000 đồng và thỏa thuận trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
12/6/2025 (đến hết ngày 11/ 07/ 2025), bên bán và bên mua sẽ tiến hành thủ tục công
chứng chuyển nhượng tại cơ quan có thẩm quyền. Khi thủ tục công chứng chuyển
nhượng hoàn tất, ông D phải giao số tiền 2.000.000.000 đồng còn lại cho ông T – bà
D1. Ngoài ra hai bên còn thỏa thuận thửa đất trên không bị quy hoạch Bô xít, không
bị ngăn chặn và liên quan đến pháp lý...
Thời gian sau đó ông D gọi điện thoại cho ông T - bà D1 nhiều lần để hai bên tiến
hành lập hợp đồng sang nhượng nhưng ông T - bà D1 cứ tìm lý do từ chối.
Ngày 01/ 07/ 2025, ông D tiếp tục yêu cầu ông T - bà D1 hoàn thành việc sang
nhượng thửa đất thì bà D1 đã gửi tin nhắn thông báo là do vợ chồng bà có nợ của bà
T1, bà D2 và bà V số tiền hơn 10 tỷ đồng nên các chủ nợ trên đã khởi kiện ra Tòa
án nhân dân khu vực 12 - Đồng Nai và phần diện tích đất ông T – bà D1 sang nhượng
cho ông D đang bị Tòa án ra văn bản ngăn chặn và đã được ngăn chặn lên hệ thống.
Sau khi biết được thông tin trên, ông D tìm hiểu và được biết ông T - bà D1 đã thông
đồng với bà D2, bà V và bà T1 nhằm chiếm đoạt số tiền sang nhượng đất cho ông
D, cụ thể bà D1 khẳng định bà D2, bà V và bà T1 thông đồng với ông T – bà D1 là
khi nào ông T – bà D1 hoàn thành thủ tục sang nhượng thửa đất cho ông D tại phòng
công chứng và nhận đủ số tiền 2.000.000.000 đồng còn lại từ ông D, thì bà D2, bà
V và bà T1 sẽ dùng thủ đoạn gửi đơn khởi kiện đòi nợ ông T - bà D1 đến Tòa án và
đề nghị Tòa án phong tỏa, ngăn chặn việc sang nhượng.
Để đảm bảo tài sản của mình không bị các đối tượng trên lừa đảo chiếm đoạt,
ông D đã yêu cầu ông T – bà D1 trả lại số tiền 400.000.000 đồng đặt cọc và bồi
thường tiền cọc cho ông D do ông T - bà D1 đã vi phạm hợp đồng đặt cọc thì ông T
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.