Chương III TRÁCH NHIỆM PHỐI HỢP CỦA CƠ QUAN, NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN
Điều 7. Giải thích, thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý
1. Giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý
a) Tại thời điểm bắt, tạm giữ người, lấy lời khai, hỏi cung bị can, lấy lời khai
của người bị hại, lấy lời khai của đương sự, đương sự nộp đơn trực tiếp tại Tòa án
hoặc tại thời điểm gửi thông báo thụ lý vụ án, thông báo thụ lý đơn yêu cầu, cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm chuyển cho họ đọc
Bản thông tin về người được trợ giúp pháp lý theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo
Thông tư liên tịch này. Trường hợp họ không tự đọc được thì cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho họ biết.
Trường hợp họ tự nhận mình là người được trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích về quyền được trợ giúp
pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý và pháp luật về tố tụng.
Việc giải thích được thực hiện kịp thời, đầy đủ, bằng ngôn ngữ dễ hiểu để họ hiểu
rõ về quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí;
-- 5 of 35 --
CÔNG BÁO/Số 997 + 998/Ngày 22-10-2018 7
b) Trong tố tụng hình sự, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
trách nhiệm đọc, hướng dẫn cụ thể nội dung và điền thông tin vào Biên bản giải
thích về quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí của người bị buộc tội, người bị hại,
đương sự thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo
Thông tư liên tịch này. Biên bản giải thích được lưu tại hồ sơ vụ án;
c) Trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, người tiến hành tố tụng giải thích
cho đương sự về quyền được trợ giúp pháp lý;
d) Việc khiếu nại liên quan đến giải thích quyền được trợ giúp pháp lý được
thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng.
2. Thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý
a) Trong tố tụng hình sự, việc thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý được
thực hiện như sau:
Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại, đương sự tự nhận mình là người
được trợ giúp pháp lý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và có yêu cầu trợ
giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông
báo cho Trung tâm, Chi nhánh để thực hiện các quy định tại khoản 4 Điều 3 của
Thông tư liên tịch này. Việc thông báo được thực hiện theo Mẫu số 03 ban hành kèm
theo Thông tư liên tịch này, ghi vào biên bản tố tụng và lưu tại hồ sơ vụ án.
Đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, ngoài việc thông báo bằng văn bản thì cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo ngay bằng điện thoại cho
Trung tâm, Chi nhánh.
Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại, đương sự tự nhận mình là người
được trợ giúp pháp lý và chưa có yêu cầu trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông tin cho Trung tâm, Chi nhánh biết
để thực hiện các quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch này. Việc thông
tin được thực hiện theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này;
b) Trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, việc thông báo, thông tin về trợ
giúp pháp lý được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, trừ trường
hợp việc thông báo về trợ giúp pháp lý không phải ghi vào biên bản tố tụng.
3. Trường hợp chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội thuộc diện được
trợ giúp pháp lý theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nếu người bị buộc tội,
người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng đề nghị Trung tâm, Chi nhánh cử ngay người thực
-- 6 of 35 --
8 CÔNG BÁO/Số 997 + 998/Ngày 22-10-2018
hiện trợ giúp pháp lý bào chữa cho họ. Việc đề nghị được thực hiện bằng văn bản
thông báo theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này.