Mục lục - 3 điều ▼
Điều 28. Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bà D- bị đơn, có nơi cư trú tại xã Phú Túc,
tỉnh Vĩnh Long nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu
vực 5- Vĩnh Long
[1.3] Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Ông T, bà D có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Ông T vắng mặt dù được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2. Do đó căn cứ vào Điều 227,
228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự
trên.
[2] Về nội dung vụ án:
Bà D và ông T cùng thống nhất trình bày ông bà có quan hệ tình cảm và có 01
con chung do bà T sinh ngày 27/6/2024 theo giấy chứng sinh do Bệnh viện Nguyễn
Đình Chiểu cấp. Cháu Đặng Huỳnh Hải Đ (tên dự kiến khai sinh) bà D sinh ngày
27/6/2024 là sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị D và ông Nguyễn Văn
T. Nếu xem xét theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì cháu Thịnh sẽ là
con chung của bà D và ông T. Tuy nhiên, bà Điệp và ông T đều không thừa nhận
cháu Hải Đăng là con của ông T mà cho rằng cháu Hải Đăng là con của ông T. Hiện
-- 3 of 7 --
Trang 4
tại ông T và bà D đã ly hôn và theo nội dung bản án số 143/2024/HNGĐ-ST, ngày
29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau thì bà D và ông T cũng
thừa nhận ông bà chỉ có 01 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Bảo Ngọc, không có
cháu Đặng Huỳnh Hải Đ.
Mặt khác, Tại Kết quả xét nghiệm ADN của Viện Sinh Học Phân Tử LOCI
ngày 04/7/2024 đã kết luận Ông Đặng Trần Thái T có quan hệ huyết thống cha –con
với người có mẫu ADN ký hiệu Đặng Huỳnh Hải Đăng với Tần suất
99,999999999943 %. Dó đó, yêu cầu của anh Đặng Trần Thái T về việc xác định anh
là cha đẻ của cháu Đặng Huỳnh Hải Đăng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại
Điều 88. , 89, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đặng Trần Thái T được miễn
nộp áp phí.
[4] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 5- Vĩnh Long là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự
Căn cứ Điều 88, 89, 91,101, và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;