CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc1002/2026/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 05 năm 2026, giữa các đương sự:
2
- Ngân hàng Thương mại cổ phần P
Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà T, A T, phường A, thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T1 – Chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Thế A, sinh năm 1983
Địa chỉ: Lô A - B P, Phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền
của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Lê
Văn H trình bày:
Ngày 20/07/2022 anh có nhận chuyển nhượng của anh Lê Quang T và chị
Trương Thị Lệ Q sử dụng đất tại thửa đất số 502, tờ bản đồ số 15, địa chỉ tại Thôn A,
xã V, huyện V (nay là xã V), tỉnh Thanh Hóa với giá trị 200.000 đồng (Hai trăm triệu
đồng). Hai bên đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng được
công chứng tại Văn phòng C số công chứng số 3161, quyển số 05/2022TP/CC-
SCC/HĐGD. Sau khi ký kết hợp đồng anh đã giao nhận đủ số tiền cho vợ, chồng anh
Lê Quang T và chị Trương Thị Lệ . Vợ, chồng anh T, chị L cũng đã giao cho anh
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao tài sản quyền sử dụng đất cho anh sử
dụng từ đó đến nay. Sau khi ký kết hợp đồng do công việc bận và bản thân anh cũng
thấy chưa cần thiết nên anh chưa đến cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện thủ tục
làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ thời điểm ký kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đến nay anh được bàn giao tài sản và sử dụng ổn định
không có tranh chấp với ai. Tuy nhiên theo anh được biết thì quyền sử dụng đất nêu
trên bị cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá cưỡng chế kê biên xử lý tài sản
theo quyết định cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản số 01/QĐ-CTHADS ngày
02/12/2024 để thi hành án đối với khoản vay của anh T, chị L với Ngân hàng TMCP
P và đồng thời cơ quan thi hành án đang có công văn tạm dừng giao dịch chuyển
nhượng đối với thửa đất. Sau đó anh có nhận được thông báo về việc xác định quyền
sở hữu, sử dụng đối với tài sản thi hành án của chấp hành viên thuộc Phòng thi hành
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.