Số: 209/2026/Q
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúctoà số: 185/2026/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2026 giữa:
2
gian gần đây ông bà rất ít nói chuyện với nhau nên ông C xét thấy không còn tình cảm
với bà N nữa nên ông C quyết định ly hôn với bà N.
Ông C và bà N có một người con chung tên Trần Thị Mỹ L, sinh ngày
18/3/2002 hiện nay đã trường thành và có gia đình sống riêng. Ông C, bà N không có
tài sản chung và không có nợ chung.
Tại phiên tòa, ông Trần Minh C yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân ông C
yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị N. Về con chung tên Trần Thị Mỹ L, sinh
ngày 18/3/2002 hiện nay đã trường thành và có gia đình sống riêng nên ông C không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không có nên ông C không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, ông C không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải
quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp
luật nhưng bà N không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa
án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của bà.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm
quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu
thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và
Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và
nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối
với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều
vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 14, Điều
53, Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử không công nhận quan
hệ gữa ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị N là quan hệ vợ chồng. Về con chung, về
tài sản chung và nợ chung ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không đề
nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.