Mục lục - 3 điều ▼
Điều 5. và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An
Giang xác định nơi cư trú của bà Nguyễn Thị Bảo T tại ấp L, xã L, tỉnh An
Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
-- 3 of 7 --
4
[1.2] V1 khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Bảo T trả nợ theo hợp đồng tín
dụng mà các bên đã ký kết; chủ thể tham gia giao dịch (bà Nguyễn Thị Bảo T)
không có đăng ký kinh doanh nên là tranh chấp về dân sự. Đồng thời, bà
Nguyễn Thị Bảo T (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp L, xã L, tỉnh An Giang nên Tòa
án nhân dân Khu vực 11 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại
khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[1.3] Quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Nguyễn Thị Bảo T đã được tống đạt
các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt
không có lý do chính đáng và không gửi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của
V1. Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị Bảo T vào ngày
15/5/2026 tại nơi cư trú nhưng do bà Nguyễn Thị Bảo T vắng mặt nên không ghi
nhận được ý kiến. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Bảo T (bị đơn) đã được tống đã
được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa
đổi, bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng bà Nguyễn Thị
Bảo T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu của V1 buộc bà Nguyễn Thị Bảo T có nghĩa vụ trả tổng
số tiền tạm tính đến ngày 22/5/2026 là 291.714.522 đồng và lãi phát sinh kể từ
ngày 23/5/2026 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận trong
Hợp đồng tín dụng số LD2427101782 ngày 26/9/2024, Hội đồng xét xử xét
thấy:
V1 cho rằng, ngày 26/9/2024, V1 có cho bà Nguyễn Thị Bảo T vay số
tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng (tính từ ngày 27/9/2024 đến
ngày 05/9/2029, lãi suất cho vay tối đa là 39%/ năm; mục đích cho vay: Mua
sắm vật liệu gia đình; việc cho vay có lập Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay
không tài sản bảo đảm, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử
dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ1
(được cập nhật vào hệ thống của V1 theo Hợp đồng tín dụng số LD2427101782
ngày 26/9/2024). Sau khi vay, bà Nguyễn Thị Bảo T đã trả nợ cho V1 số tiền nợ
gốc là 10.032.889 đồng và tiền lãi là 41.570.193 đồng. Đến ngày 05/6/2025, bà
Nguyễn Thị Bảo T vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Do đó, V1 yêu cầu
bà Nguyễn Thị Bảo T trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với số tiền vốn
gốc là 189.967.111 đồng và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng cho
đến khi trả hết nợ.
Bà Nguyễn Thị Bảo T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, có đủ căn cứ xác định
giữa V1 với bà Nguyễn Thị Bảo T có xác lập Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho
vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân
hàng Đ1 (được cập nhật vào hệ thống của V1 theo Hợp đồng tín dụng số
-- 4 of 7 --
5
LD2427101782 ngày 26/9/2024); bà Nguyễn Thị Bảo T đã vi phạm nghĩa vụ trả
nợ từ ngày 05/6/2025; hiện nay, bà Nguyễn Thị Bảo T còn nợ lại V1 số tiền vốn
gốc là 189.967.111 đồng và lãi phát sinh như lời trình bày của V1.
Xét thấy, việc xác lập hợp đồng tín dụng trên cơ sở tự nguyện, nội dung
và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, là hợp đồng hợp
pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, đã làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ của các bên theo hợp đồng đã giao kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng,
tính đến ngày 05/6/2025, bà Nguyễn Thị Bảo T còn nợ lại V1 số tiền vốn gốc là
189.967.111 đồng và lãi phát sinh nhưng không thanh toán nợ theo thỏa thuận
cho đến nay, làm phát sinh nợ quá hạn nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó,
việc V1 yêu cầu bà Nguyễn Thị Bảo T có nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi tính đến ngày
22/5/2026 với tổng số tiền 291.714.522 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày
23/5/2026 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được quy định trong hợp
đồng tín dụng là phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã
giao kết; Điều 280; Điều 357; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 91. , Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7; Điều 8 Nghị
quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí:
[3.1] Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên V1 không phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3.2] Bà Nguyễn Thị Bảo T có nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của
Ngân hàng nên bà Nguyễn Thị Bảo T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số
tiền phải trả cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án
theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: