Về việc giải quyết vụ án:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà Lương Thị M khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Duy N
phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc là 6.658.486.400 đồng và 2.830.848.000
đồng nợ lãi với mức lãi suất 10%, thời điểm tính lãi từ ngày 01/8/2021 đến ngày
01/11/2025 theo Biên bản xác nhận và cam kết trả nợ ngày 30/6/2021. Trong
quá trình giải quyết vụ án, bà Lương Thị M đã rút yêu cầu khởi kiện đối với
nghĩa vụ trả lãi. Tranh chấp phát sinh giữa các đương sự xuất phát từ Biên bản
xác nhận nợ. Biên bản xác nhận nợ nêu trên có các nội dung cơ bản của hợp
đồng dân sự theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự, cụ thể Biên bản đã ghi
nhận sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập các quyền, nghĩa vụ dân sự. Vì
-- 2 of 7 --
3
vậy, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản,
quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn theo Ddieuf 35, điểm g
khoản 1 Điều 40, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn tuy đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ 02. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, khoản 2 Điều
229 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy
định.
[3] Về nội dung vụ án: Theo nội dung biên bản xác nhận nợ và cam kết trả
nợ, ông Nguyễn Duy N xác nhận đến hết ngày 30/6/2021 ông Nguyễn Duy N
còn nợ bà Lương Thị M tổng số tiền là 6.658.486.400 đồng. Ông Nguyễn Duy N
cam kết sẽ thanh toán hết số tiền nợ trên trước ngày 31/7/2026. Như vậy, việc bà
Lương Thị M cho ông Nguyễn Duy N vay tiền là có căn cứ. Các bên tham gia
giao dịch đều tự nguyện và có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi
dân sự; nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái
đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của các Điều 116, 117, 398, 463 Bộ luật
Dân sự nên các bên có nghĩa vụ thực hiện. Theo nội dung trao đổi giữa hai bên,
ông Nguyễn Duy N hẹn trước ngày 31/7/2021 ông Nguyễn Duy N sẽ trả tiền cho
bà Lương Thị Minh T1. Quá thời hạn cam kết mà ông Nguyễn Duy N không trả
nên bà Lương Thị M khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Duy N trả tiền vay là có
căn cứ, ông Nguyễn Duy N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lương Thị M số tiền
nợ gốc là 6.658.486.400 đồng theo nội dung biên bản xác nhận nợ và cam kết trả
nợ.
[4] Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả thì phải trả lãi đối với số
tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả
được thực hiện theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
[5] Đối với khoản tiền lãi, trình giải quyết vụ án, bà Lương Thị M rút yêu
cầu đối với số tiền 2.830.848.000 đồng nêu trên. Việc rút một phần yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội
đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Lương Thị
M về việc buộc ông Nguyễn Duy N trả số tiền 2.830.848.000 đồng nợ lãi.
[6] Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
được chấp nhận nên theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,
khoản 3 Điều 26
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Duy N phải chịu án phí đối với số
tiền mà ông Nguyễn Duy N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lương Thị M. Cụ thể
số tiền án phí ông Nguyễn Duy N phải chịu là 114.658.000 đồng (làm tròn). Bà
Lương Thị M không phải chịu án phí.
[7] Về chi phí tố tụng: Chi phí đăng, phát hết tổng số tiền 11.250.000đ,
chi phí giám định hết 4.700.000đ. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được
chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí trên. Nguyên đơn bà Lương Thị
-- 3 of 7 --
4
M đã nộp tạm ứng nên ông Nguyễn Duy N có nghĩa vụ hoàn trả ông Lương Thị
M tổng số tiền chi phí tố tụng 15.950.000đ chi phí đăng, phát và giám định. Kể
từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi
hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả thì phải trả lãi đối với số tiền chậm
trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được thực
hiện theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn
thấy, về việc thu thập tài liệu, chứng cứ xác định nơi cư trú của bị đơn: Tại đơn
khởi kiện, nguyên đơn bà Lương Thị M đã ghi đầy đủ địa chỉ cư trú của bị đơn
ông Nguyễn Duy N tại thời điểm các bên ký với nhau Biên bản xác nhận và cam
kết trả nợ. Tại thời điểm năm 2021 khi ông Nguyễn Duy N ký Biên bản xác
nhận nợ và cam kết trả nợ, ông Nguyễn Duy N là Giám đốc Công ty TNHH
MTV N1 có địa chỉ trụ sở tại N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (nay là khu
N, phường K, tỉnh Lạng Sơn), trùng với địa chỉ của ông Nguyễn Duy N thể hiện
tại Biên bản xác nhận và cam kết trả nợ và Đơn khởi kiện của bà Lương Thị M.
[9] Điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy
định: "Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng
địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở
mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục
đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán
không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục
chung. Do đó, việc Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn thụ lý, giải quyết vụ
án là đúng quy định.
[10] Điểm a khoản 1 Điều 5 của
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày
05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật
Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi
kiện lại vụ án (gọi tắt là
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP) quy định: "Địa chỉ
nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" quy định
tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được xác định
như sau: Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân
Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở
về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người
bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc
đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú".
[11] Khoản 2 Điều 5 của
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP quy
định: "Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ "nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có
trụ sở" của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án
theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời
điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận
hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị
-- 4 of 7 --
5
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1