Điều 3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ Kế hoạch này xây dựng, ban hành kế hoạch
về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc phạm vi quản lý, tổ chức thực
hiện và gửi báo cáo về Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp theo quy định./.
Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ (để b/c);
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;
- UBND, Sở KH&CN các tỉnh, thành phố;
- Bộ KH&CN: Bộ trưởng và các Thứ trưởng, các cơ quan,
đơn vị thuộc Bộ, Cổng thông tin điện tử Bộ;
- Lưu: VT, HVCL, KH-TC.
BỘ TRƯỞNG
Vũ Hải Quân
-- 2 of 25 --
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
KẾ HOẠCH TỔNG THỂ VỀ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ
VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 5 NĂM GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
(Kèm theo Quyết định số /QĐ-BKHCN ngày tháng năm 2026
của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ)
Giai đoạn 2021 - 2025, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có bước
chuyển biến mạnh mẽ, từng bước trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng
kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia;
đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế khoảng
47%. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) cải thiện mạnh, năm 2025 xếp thứ
44/139, thuộc nhóm quốc gia có thành tích vượt trội trong 15 năm liên tiếp; hệ
sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đứng thứ 55 trong nhóm 100 quốc gia có hệ sinh
thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ phát
triển, giữ vai trò nòng cốt trong nghiên cứu và ứng dụng. Nhiều cơ sở nghiên
cứu, đào tạo được xếp hạng quốc tế; hạ tầng tiếp tục được đầu tư. Chính sách xã
hội hoá, hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, thu hút nguồn lực trong và ngoài nước
cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nguồn lực tài chính từ
năm 2025 được tăng cường, ưu tiên bố trí, đảm bảo ở mức 3% chi ngân sách nhà
nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, lớn nhất trong
10 năm gần đây. Thể chế, chính sách có bước đột phá, tạo hành lang pháp lý
thông thoáng, giải phóng nguồn lực và kiến tạo phát triển.
Tuy nhiên, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn bộc lộ
một số hạn chế: Tốc độ bứt phá chậm; quy mô, tiềm lực và trình độ còn khoảng
cách lớn với các nước phát triển; nhiều công nghệ lõi, công nghệ chiến lược còn
phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài. Thể chế đã được khơi thông nhưng chưa
thực sự đi vào cuộc sống. Nhân lực chất lượng cao còn thiếu, lực lượng nghiên
cứu có xu hướng già hóa; nguồn lực đầu tư chưa tương xứng. Hạ tầng và dữ liệu
chưa đồng bộ, tiềm ẩn rủi ro về bảo vệ dữ liệu. Thị trường khoa học và công nghệ
phát triển chậm, doanh nghiệp chưa thực sự là trung tâm của hệ thống đổi mới
sáng tạo.
Những hạn chế nêu trên chủ yếu do đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo trong một thời gian dài trước đây còn thấp trong điều kiện nguồn lực
hạn chế, lại phân tán, thiếu hệ thống mang tính chiến lược, chưa xác định đúng
các đột phá cần tập trung đầu tư; phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa đồng bộ;
-- 3 of 25 --
2
mô hình tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào yếu tố truyền thống, chưa tạo áp lực đổi
mới; doanh nghiệp thiếu động lực đổi mới công nghệ do rủi ro cao, hạn chế về
vốn và thị trường.
Từ thực tiễn giai đoạn 2021 - 2025, có thể rút ra các bài học: Thể chế phải đi
trước và khi cần có thể nhanh chóng điều chỉnh; tổ chức thực thi là khâu then chốt,
cần được quản trị theo chuẩn quốc tế, giám sát bằng dữ liệu; doanh nghiệp cần
được tạo điều kiện để trở thành lực kéo trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo;
công nghệ lõi, công nghệ chiến lược cần được xác định rõ và phải ưu tiên, tập
trung nguồn lực đầu tư; hợp tác quốc tế, tận dụng tri thức và nguồn lực toàn cầu
cần phải được đẩy mạnh.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo
ra nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức lớn đan xen; những quyết sách
chiến lược mang tính đột phá triển khai trong nước đang đặt ra nhiều vấn đề mới,
yêu cầu mới, trong đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là
động lực chính để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai
đoạn 2026 - 2030 là căn cứ để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm và hằng năm; xác định danh mục
chương trình, nhiệm vụ trọng điểm, ưu tiên; là công cụ triển khai Chiến lược phát
triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, gắn với mục tiêu
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số”.
I. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của
tăng trưởng kinh tế “2 con số”, là nền tảng bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát
triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần quyết định đưa Việt
Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình
cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới. Cơ chế, chính
sách được hoàn thiện, phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ
quốc tế; hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và hạ
tầng dữ liệu phát triển hiện đại, đồng bộ; nhân lực chất lượng cao được tăng cường
trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; từng bước làm chủ, phát triển và ứng
dụng các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công
nghệ quốc gia. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia được phát triển theo hướng
hiện đại, hội nhập; liên kết giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân được tăng
cường; hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi
-- 4 of 25 --
3
mới sáng tạo được thúc đẩy; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và doanh
nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh khu vực, từng bước vươn ra thị trường
toàn cầu.
2. Mục tiêu cụ thể
- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế
đạt trên 55%.
- Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hóa xuất
khẩu đạt tối thiểu 50%.
- Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2%
GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Bố trí ít nhất
2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
- Nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời
gian) đạt 12 người trên một vạn dân. Tăng tỷ lệ lực lượng lao động trí thức trong
các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chiến lược lên 25%. Thu hút
1.000 lượt trí thức Việt Nam ở nước ngoài tiêu biểu trên các lĩnh vực tham gia
trao đổi học giả, hợp tác nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ trong nước
thông qua các hình thức làm việc linh hoạt.
- Có tối thiểu 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và
thế giới. Phát triển được từ 15 - 20 tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập thành
những tổ chức xuất sắc, nằm trong nhóm 50% tổ chức được xếp hạng cao nhất
(trong đó có tổ chức nằm trong nhóm 30%) theo đánh giá của các tổ chức quốc tế
uy tín như SCImago Institutions Rankings (SIR) hoặc tương đương.
- Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm. Số lượng đơn
đăng ký, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16% - 18%/năm. Tỷ lệ sáng
chế được khai thác thương mại đạt 8% - 10% số văn bằng bảo hộ được cấp.
- Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu
thế giới. Hình thành 100 trung tâm đổi mới sáng tạo; 1 trung tâm siêu tính toán
quốc gia đóng vai trò hạ tầng lõi, đồng thời phát triển mạng lưới các trung tâm
tính toán hiệu năng cao chuyên ngành, liên kết giữa viện, trường, doanh nghiệp
và địa phương.
- Chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo thuộc nhóm 45 quốc gia hàng đầu
thế giới. Tối thiểu hình thành 5 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được định giá
từ 1 tỷ USD trở lên. Tổng giá trị gọi vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
giai đoạn 2026 - 2030 hướng đến đạt 4 tỷ USD.
-- 5 of 25 --
4
- Hỗ trợ về tuyên truyền, phổ biến pháp luật, cung cấp thông tin, truyền
thông, xúc tiến thương mại, hỗ trợ sở hữu trí tuệ, tiếp cận chính sách ưu đãi, hỗ
trợ của Nhà nước cho tối thiểu 1.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và
3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ.
- Trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức
trung bình của thế giới. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên
40% trong tổng số doanh nghiệp. Hình thành tối thiểu 5 - 10 doanh nghiệp công
nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
- Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên
cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo.
- Làm chủ và sản xuất trong nước một số sản phẩm công nghệ chiến lược có
tác động lớn đến kinh tế và an ninh quốc gia; hướng đến làm chủ 70% nhóm công
nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh
tranh quốc gia.
- Tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được ứng dụng và thương mại hóa
đạt tối thiểu 30%.
- Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế
giới. Tỷ lệ hài hòa của hệ thống tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu
chuẩn khu vực và tiêu chuẩn nước ngoài đạt 80%; bảo đảm định hướng rõ việc áp
dụng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn nước ngoài cho 100%
sản phẩm công nghệ chiến lược.
II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo
a) Hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực thi chính sách
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo phù hợp với đặc thù lao động sáng tạo, nguyên tắc thị trường, chuẩn mực
và thông lệ quốc tế; khả thi trong triển khai; hiệu quả đo lường được bằng kết quả
cụ thể, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng, năng suất và đổi mới sáng tạo; dẫn dắt
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số”.
- Kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn, bảo đảm có hiệu lực thi hành
đồng bộ với các luật. Tháo gỡ rào cản, khơi thông hoạt động khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo, trọng tâm là phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công
nghệ chiến lược, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ lõi và thương mại hóa;
-- 6 of 25 --
5
thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; chuyển giao công nghệ nội sinh;
tăng cường tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ.
b) Đổi mới cơ chế thực hiện và tái cấu trúc chương trình khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo
- Tổ chức thực hiện cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo gắn với các bài toán lớn và công nghệ chiến lược. Khuyến khích
thực hiện khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, chuyển sang cơ chế hậu kiểm; xây
dựng tiêu chí đánh giá đầu ra và tác động. Gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ với
phân bổ ngân sách, xếp hạng tổ chức và trách nhiệm giải trình.
- Xây dựng và triển khai các nhiệm vụ, chương trình khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo, tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực có tác động lan tỏa lớn,
đồng thời bảo đảm phát triển cân đối, toàn diện, với định hướng các nhóm chính
sau đây: (i) Phát triển nghiên cứu cơ bản; (ii) Phát triển nghiên cứu ứng dụng,
phát triển công nghệ, phát triển giải pháp xã hội trọng điểm quốc gia; (iii) Phát
triển công nghệ chiến lược; (iv) Các chương trình đổi mới sáng tạo; (v) Các
chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại địa phương,
doanh nghiệp; (vi) Nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
(vii) Các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục
vụ quốc phòng, an ninh. Tiêu chí xác định (Phụ lục I) và Khung các chương trình,
nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026 - 2030 (Phụ
lục II) là căn cứ để bố trí nguồn lực ngân sách nhà nước và định hướng cho bộ,
ngành, địa phương xây dựng kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
5 năm, hằng năm, tổ chức theo dõi, đánh giá, đề xuất điều chỉnh (nếu cần thiết).
c) Phát triển môi trường thử nghiệm, hoàn thiện cơ chế tạo cầu thị trường
khoa học và công nghệ
- Xây dựng và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) nhằm
tạo hành lang pháp lý an toàn để thử nghiệm công nghệ, sản phẩm và mô hình
kinh doanh mới, ưu tiên các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, blockchain, tài
sản số, robot, thiết bị bay không người lái, công nghệ y - sinh, năng lượng nguyên
tử, năng lượng mới, vật liệu mới và công nghệ biển.
- Sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính, cơ chế mua sắm công đối với sản phẩm
công nghệ trong nước, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đổi mới sáng tạo phát triển;
ưu tiên mua sắm công, đặt hàng công và thuê dịch vụ công nghệ đối với các sản
phẩm do doanh nghiệp Việt Nam chủ trì thiết kế, phát triển công nghệ và tổ chức
sản xuất trong nước (Make in Viet Nam), đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng
và bảo đảm an ninh quốc gia.
-- 7 of 25 --
6
d) Phát triển hệ thống dữ liệu và chuẩn hóa công tác thống kê, đánh giá khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Xây dựng hệ thống quản lý chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo trên nền tảng số thống nhất, kết nối các cơ sở dữ liệu; chuẩn hóa
quản lý theo vòng đời nhiệm vụ, áp dụng mã định danh thống nhất. Bảo đảm công
khai, minh bạch thông tin, cho phép doanh nghiệp, xã hội tiếp cận, khai thác; ứng
dụng công nghệ số trong giám sát, đánh giá và hỗ trợ phân bổ nguồn lực.
2. Huy động nguồn lực và cơ cấu chi ngân sách nhà nước
a) Định hướng cơ cấu chi, tiêu chí ưu tiên và nguyên tắc phân bổ
- Phân bổ ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
với cơ cấu chi hợp lý, cân đối giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và
đổi mới sáng tạo, đảm bảo việc kiểm soát và có thể linh hoạt điều chỉnh theo yêu
cầu của thực tiễn phát triển với các định hướng như sau:
+ Tập trung bố trí ngân sách nhà nước chi sự nghiệp khoa học phục vụ nghiên
cứu công nghệ chiến lược, bảo đảm tối thiểu 15% trong tổng chi sự nghiệp khoa học.
+ Ưu tiên phân bổ ngân sách cho nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ
phục vụ nhu cầu thực tiễn. Đồng thời bảo đảm đầu tư đúng tầm cho nghiên cứu
cơ bản, phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao.
+ Bố trí ngân sách hợp lý cho đổi mới, cải tiến công nghệ, các nhiệm vụ có
doanh nghiệp tham gia, cùng tài trợ, tiếp nhận, thương mại hóa kết quả và thực
hiện theo cơ chế đối ứng; đồng thời khuyến khích đổi mới quản trị và quy trình,
thử nghiệm công nghệ, tăng cường đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ doanh
nghiệp dùng công nghệ mới qua hình thức phiếu hỗ trợ tài chính (voucher).
- Triển khai việc đặt hàng, giao nhiệm vụ đối với các bài toán lớn, gắn với
mục tiêu quốc gia, ngành, lĩnh vực và nhu cầu thực tiễn của từng địa phương; ưu
tiên các nhiệm vụ gắn với công nghệ chiến lược; các chương trình, dự án quy mô
lớn, có sản phẩm cụ thể, địa chỉ ứng dụng và sự tham gia của doanh nghiệp, viện,
trường; giao trực tiếp đối với nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ công nghệ chiến lược;
đặt hàng có doanh nghiệp cùng tài trợ đối với nhiệm vụ ứng dụng. Triển khai tài
trợ cạnh tranh đối với nghiên cứu nền tảng.
b) Thực hiện mô hình “ngân sách nhà nước dẫn dắt - xã hội cùng đầu tư”:
- Ngân sách trung ương tập trung đầu tư cho hạ tầng quản lý nhà nước; hạ
tầng lõi, nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia; hạ tầng có tính liên vùng, liên ngành,
yêu cầu công nghệ cao, vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài. Ngân sách địa phương
tập trung phát triển hạ tầng ứng dụng, các trung tâm đổi mới sáng tạo địa phương,
-- 8 of 25 --
7
cơ sở dữ liệu chuyên ngành và kết nối vào nền tảng quốc gia.
- Nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước tham gia đầu tư thiết bị, nâng
cấp công nghệ, nền tảng ứng dụng, dịch vụ dữ liệu, khai thác vận hành, các khu
thử nghiệm và không gian đổi mới sáng tạo.
- Thực hiện đầu tư theo sản phẩm, cùng đầu tư với doanh nghiệp, gắn với
khả năng thương mại hóa. Áp dụng linh hoạt các hình thức tài trợ, cho vay, góp
vốn; tăng cường giám sát, đánh giá theo kết quả và tác động thực tiễn.
- Khuyến khích hoạt động của các quỹ phát triển khoa học và công nghệ của
doanh nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia, địa phương nhằm tăng kinh phí chi
cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định pháp luật; tăng cường
cùng đầu tư với khu vực tư nhân nhằm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo,
thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh và mở rộng quy mô thị
trường.
- Tăng cường lồng ghép nguồn lực từ đầu tư công, chi thường xuyên, chương
trình mục tiêu, quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ của doanh nghiệp và
nguồn hợp pháp khác theo nguyên tắc công khai, minh bạch, không chồng chéo,
không cấp vốn trùng lặp cho cùng một mục tiêu, tăng tỷ lệ vốn ngoài ngân sách
nhà nước trong các nhiệm vụ có khả năng thương mại hóa cao; thúc đẩy các
chương trình, nhiệm vụ được tài trợ, đầu tư từ các nguồn khác nhau, cùng chia sẻ
rủi ro và chia sẻ lợi ích.
3. Phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
a) Phát triển hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm và tính toán dùng chung
- Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng cho các lĩnh vực công nghệ có nhu cầu
cấp thiết và khả năng lan tỏa lớn, trọng tâm là các lĩnh vực công nghệ chiến lược;
tổ chức triển khai các chương trình, dự án hạ tầng quy mô quốc gia gắn với từng
lĩnh vực, bảo đảm đồng bộ với định hướng phát triển ngành, vùng và mục tiêu
làm chủ công nghệ chiến lược.
- Đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng nghiên cứu và hạ tầng số quốc gia, gồm
hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, cơ sở thử nghiệm, kiểm định, đánh giá
chất lượng sản phẩm công nghệ đạt chuẩn quốc tế và trung tâm dữ liệu quốc gia,
trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo, siêu máy tính phục vụ nghiên cứu và phát triển
và huấn luyện mô hình trí tuệ nhân tạo.
b) Phát triển hạ tầng thông tin, dữ liệu, thống kê và hạ tầng chất lượng quốc gia
- Đầu tư phát triển hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số phục vụ thiết kế, mô phỏng,
thử nghiệm và sản xuất thử sản phẩm công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ
-- 9 of 25 --
8
số trọng điểm; xây dựng các nền tảng dữ liệu, tính toán và môi trường dùng chung
cho viện, trường, doanh nghiệp. Thiết lập cơ chế kết nối, liên thông, chia sẻ và
chuẩn hóa dữ liệu; xây dựng nền tảng số quản lý nhi