CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcchuyển mùi yh
- Bệnh lây lan theo chiều ngang, từ cá bệnh sang cá khỏe trong cùng ao
nuôi, trại nuôi, qua nguồn nước, dụng cụ, ...
2
d) Dấu hiệu bệnh lý:
- Trạng thái hoạt động: Cá lờ đờ, bơi không định hướng (bơi xoắn ốc, vòng
tròn), trường hợp nặng sẽ bơi nghiêng mình trên mặt nước và quay tròn sau đó
chết, nổi lờ đờ trên tầng mặt hoặc dạt vào bờ. Cá có dấu hiệu hôn mê, mất phương
hướng do vi khuẩn tấn công vào hệ thần kinh trung ương.
Bên ngoài: Mắt lồi, đục một hoặc hai bên. Cơ thể sẫm màu (đen thân). Xuất
huyết ở gốc vây, quanh miệng, nắp mang, tuột vảy và có thể có vết lở loét.
Bên trong: Xoang bụng chứa dịch vàng/trắng, gan và thận sưng to, lách
sưng, gan tái nhợt. Ở giai đoạn nhiễm trùng sẽ xuất hiện các dấu hiệu xuất huyết,
viêm gan, thận, lá lách, tim, mắt và ống ruột. Lách thường có dấu hiệu sưng. Khi
bệnh nặng, thường bội nhiễm với những vi khuẩn cơ hội khác như Aeromonas
spp ở nước ngọt và Vibrio spp ở nước lợ.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm:
Xét nghiệm bằng phương pháp PCR hoặc phương pháp nuôi cấy phân lập
vi khuẩn theo tiêu chuẩn TCVN 8710-21:2019 tại phòng thử nghiệm đủ năng lực
quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT- BNNPTNT.
2. Một số bệnh khác do vi khuẩn
2.1 Bệnh trắng mang, thối mang (do vi khuẩn Myxococcus piscicolas)
- Bệnh thường gặp trên nhiều loài cá nước ngọt trong đó có cá rô phi. Bệnh
thối mang thường kết hợp bệnh nhiễm trùng máu, xuất huyết do vi khuẩn
Aeromonas spp và Pseudomonas spp.
- Điều kiện phát sinh: Vi khuẩn phát triển mạnh ở pH 6.5 - 7.5, nhiệt độ
từ 25 - 350C. Bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân, đầu hè hoặc mùa thu. Bệnh
hay xảy ra trên cá nuôi ở lồng, bè mật độ cao, nước lưu thông kém và ở cá nuôi
ao có nhiều mùn bã hữu cơ.
- Dấu hiệu bệnh lý: Cơ thể cá sẫm màu, tách đàn, bơi lờ đờ trên mặt nước,
giảm bắt mồi, xương nắp mang bị biến dạng. Tơ mang bị thối rách, ăn mòn, dính
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.