Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị quyết này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp được thành lập theo
quy định của pháp luật để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ,
công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh.
2. Đối tác chiến lược thuộc lĩnh vực vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo phải
đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thuộc danh mục ngành,
nghề quy định tại khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết này;
b) Có ký kết biên bản ghi nhớ với Ủy ban nhân dân Thành phố về hợp tác
trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo;
c) Có doanh thu toàn cầu năm gần nhất trên 25.000 tỷ đồng;
d) Có cam kết hỗ trợ Thành phố về phần mềm, phần cứng, đào tạo nhân lực
và các nội dung để phát triển vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo;
đ) Có cam kết phát triển lâu dài tại Thành phố với thời gian tối thiểu 05 năm.
3. Cơ sở ươm tạo dự án khởi nghiệp sáng tạo, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo (sau đây gọi là cơ sở ươm tạo) là cơ sở cung cấp các điều
kiện về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ cần thiết cho các dự án khởi nghiệp
sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoàn thiện ý tưởng kinh doanh, phát
triển doanh nghiệp trong giai đoạn mới thành lập.
4. Tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là tổ chức thúc đẩy
kinh doanh, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, khu tập trung dịch vụ hỗ
trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, cơ sở kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa,
cơ sở ươm tạo, khu làm việc chung hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo,
trung tâm xúc tiến và hỗ trợ hoạt động chuyển giao công nghệ, trung tâm hỗ trợ
đổi mới sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo, tổ chức cung cấp thiết bị dùng chung.
-- 2 of 28 --
3
5. Không gian đổi mới sáng tạo, khu làm việc chung là không gian làm việc
tập trung, không gian trưng bày sản phẩm, khu vực cung cấp các tiện ích để hỗ
trợ, liên kết các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
6. Thử nghiệm có kiểm soát là việc thử nghiệm công nghệ, sản phẩm, dịch
vụ hoặc mô hình kinh doanh mới có tính đổi mới sáng tạo trong điều kiện thực tế
với phạm vi được giới hạn dưới sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trong một số lĩnh vực mà pháp luật chưa quy định, chưa cho phép thực hiện hoặc
quy định hiện hành của pháp luật không phù hợp với đặc điểm, tính năng mới của
công nghệ, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh được đề xuất thử nghiệm
nhằm khuyến khích hoạt động đổi mới sáng tạo và làm cơ sở đánh giá, hoàn thiện
trước khi đưa vào ứng dụng chính thức.
7. Trung tâm logistics là loại hình kết cấu hạ tầng đồng bộ, nơi thực hiện các
hoạt động liên quan đến vận tải, dịch vụ logistics và phân phối hàng hóa, bao gồm
các dịch vụ nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ
tục khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng và các
dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa.
Chương II
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ
Chương III THÍ ĐIỂM MỘT SỐ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ
Điều 9. Về quản lý đầu tư
1. Việc tách dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng ra
khỏi dự án đầu tư công được thực hiện như sau:
a) Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định chủ trương đầu tư dự án tổng
thể có quy mô dự án nhóm B thuộc lĩnh vực giao thông theo quy định của pháp
luật về đầu tư công, có quyền quyết định việc tách riêng công tác bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập khi phê duyệt chủ trương
đầu tư dự án tổng thể; quyết định mục tiêu, quy mô, tổng mức đầu tư, cơ cấu
nguồn vốn, địa điểm đầu tư của dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng
mặt bằng tại quyết định chủ trương đầu tư dự án tổng thể;
b) Căn cứ chủ trương đầu tư dự án tổng thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành
phố quyết định đầu tư, điều chỉnh dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng
mặt bằng trong phạm vi mục tiêu, quy mô, tổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn vốn,
địa điểm thực hiện dự án tổng thể.
Trường hợp điều chỉnh dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt
bằng phát sinh yếu tố phải điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án tổng thể, Hội đồng
nhân dân Thành phố thực hiện điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án tổng thể trước khi
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố điều chỉnh dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư, giải phóng mặt bằng. Việc điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án tổng thể và điều
chỉnh dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thực hiện theo quy
định của pháp luật về đầu tư công và quy định khác của pháp luật có liên quan;
c) Quyết định đầu tư dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt
bằng là căn cứ để cấp có thẩm quyền quyết định bố trí vốn kế hoạch đầu tư công
hằng năm để thực hiện, đồng thời là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất, quyết định thu hồi đất;
d) Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành danh mục các dự án đầu tư công
thực hiện tách dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng ra khỏi
dự án đầu tư công quy định tại khoản này.
2. Việc thực hiện dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây gọi
là dự án PPP) được quy định như sau:
a) Ngoài các lĩnh vực quy định tại Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công
tư, Thành phố được áp dụng đầu tư theo phương thức đối tác công tư đối với các
dự án đầu tư trong lĩnh vực thể thao, văn hóa và đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ
tầng chợ;
b) Tổng mức đầu tư đối với dự án PPP đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng
-- 6 of 28 --
7
chợ không thấp hơn 100 tỷ đồng. Tổng mức đầu tư tối thiểu đối với dự án PPP
trong lĩnh vực thể thao, văn hóa do Hội đồng nhân dân Thành phố quy định;
c) Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành giá dịch vụ cho thuê diện tích bán
hàng tại chợ để đưa vào hồ sơ mời thầu lựa chọn nhà đầu tư;
d) Trình tự, thủ tục thực hiện các dự án PPP quy định tại khoản này thực hiện
theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư và quy
định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Hội đồng nhân dân Thành phố quy định cụ thể các nội dung của dự án
PPP trong lĩnh vực thể thao, văn hóa và đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng chợ
tại báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi và tiêu chuẩn đánh
giá hồ sơ dự thầu, hợp đồng dự án PPP.
3. Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý và kinh doanh kết cấu hạ
tầng kỹ thuật cụm công nghiệp đã được đầu tư từ nguồn vốn đầu tư công thì được
Nhà nước giao đất, cho thuê đất và được cho thuê lại đất. Ủy ban nhân dân Thành
phố quy định cơ chế tài chính, thẩm quyền xác định và quyết định giá cho thuê,
đối tượng cho thuê phù hợp với điều kiện thực tế của Thành phố.
Chương III THÍ ĐIỂM MỘT SỐ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ
Điều 10. Về quản lý tài chính, ngân sách nhà nước
1. Năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, Chính phủ xem xét, trình Quốc
hội quyết định tỷ lệ điều tiết phù hợp cho ngân sách Thành phố để bảo đảm nguồn
lực thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
2. Thành phố thực hiện cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương theo quy định.
Sau khi ngân sách Thành phố bảo đảm đủ nguồn cải cách tiền lương và thực hiện
các chính sách an sinh xã hội cho cả thời kỳ ổn định ngân sách theo quy định của
cấp có thẩm quyền, Hội đồng nhân dân Thành phố được quyết định sử dụng nguồn
cải cách tiền lương còn dư của ngân sách Thành phố để đầu tư cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Thành phố, chi thu nhập tăng thêm
trên cơ sở tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 15 của Nghị quyết này.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định áp dụng trên địa bàn Thành phố:
a) Phí, lệ phí chưa được quy định trong danh mục phí, lệ phí ban hành kèm
theo Luật Phí và lệ phí;
b) Điều chỉnh mức hoặc tỷ lệ thu phí, lệ phí đã được cấp có thẩm quyền quyết
định đối với các loại phí, lệ phí được quy định trong danh mục phí, lệ phí ban
hành kèm theo Luật Phí và lệ phí, trừ án phí, lệ phí Tòa án và các loại phí thuộc
nguồn thu của ngân sách trung ương hưởng 100%;
c) Việc thí điểm thực hiện chính sách phí, lệ phí trên địa bàn Thành phố quy
định tại điểm a và điểm b khoản này phải bảo đảm có lộ trình, phù hợp với khả
năng và yêu cầu phát triển của Thành phố; tạo môi trường sản xuất, kinh doanh
thuận lợi cho doanh nghiệp; bảo đảm sự thống nhất của thị trường, không cản trở
-- 7 of 28 --
8
lưu thông hàng hóa, dịch vụ; thực hiện điều tiết hợp lý đối với hàng hóa, dịch vụ
và nguồn thu nhập hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên địa bàn Thành phố; bảo
đảm công khai, minh bạch, cải cách hành chính nhà nước.
4. Ngân sách Thành phố được hưởng 100% số thu tăng thêm từ các khoản
thu do việc điều chỉnh chính sách phí, lệ phí theo quy định tại điểm a và điểm b
khoản 3 Điều này để đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của
ngân sách Thành phố. Các khoản thu này không dùng để xác định tỷ lệ phần trăm
(%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách
Thành phố.
5. Thành phố được vay thông qua phát hành trái phiếu chính quyền địa
phương, vay từ các tổ chức tài chính trong nước, các tổ chức khác trong nước và
từ nguồn vay nước ngoài của Chính phủ vay về cho Thành phố vay lại với tổng
mức dư nợ vay không vượt quá 80% số thu ngân sách Thành phố được hưởng
theo phân cấp. Tổng mức vay và bội chi ngân sách Thành phố hằng năm do Quốc
hội quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
6. Dự toán chi ngân sách của Ủy ban nhân dân quận thuộc Thành phố, dự
toán chi ngân sách của Ủy ban nhân dân phường thuộc quận được bố trí khoản
chưa phân bổ từ 2% đến 4% tổng chi ngân sách quận, ngân sách phường để thực
hiện chi phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, sự cố, thảm họa,
cứu đói, nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ cần thiết khác,
bảo đảm tổng mức bố trí các khoản chưa phân bổ của ngân sách quận, phường và
dự phòng ngân sách địa phương không vượt quá tổng mức bố trí dự phòng từ 2%
đến 4% tổng chi ngân sách địa phương.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường quyết
định chi từ khoản chưa phân bổ; định kỳ 06 tháng, Ủy ban nhân dân phường báo
cáo Ủy ban nhân dân quận tổng hợp chung, báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố
để báo cáo Hội đồng nhân dân Thành phố tại kỳ họp gần nhất.
7. Việc thí điểm cơ chế tài chính thực hiện biện pháp giảm phát thải khí nhà
kính theo các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon được quy định như sau:
a) Tín chỉ các-bon hình thành từ các chương trình, dự án theo các cơ chế trao
đổi, bù trừ tín chỉ các-bon đầu tư từ nguồn vốn của ngân sách Thành phố được
giao dịch với các nhà đầu tư trong nước, quốc tế. Ủy ban nhân dân Thành phố
phối hợp với các Bộ: Công Thương, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính và các Bộ, ngành
có liên quan xác định tỷ lệ đóng góp về lượng giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính
trên địa bàn Thành phố cho mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia
trước khi giao dịch tín chỉ các-bon;
b) Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành trình tự, thủ tục và quyết định việc
lựa chọn nhà đầu tư. Nguồn thu từ giao dịch tín chỉ các-bon là nguồn thu ngân
sách Thàn