CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo
2
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 23 tháng 9 năm 2025, quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn là chị Quách Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 1999, chị Quách Thị T và anh Trịnh Đức L kết
hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 26/12/2018 tại Ủy ban nhân
dân phường H, quận L, thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh
mâu thuẫn từ năm 2023. Nguyên nhân do anh L chơi bời nghiện ngập, chơi lô đề
dẫn đến phải bán nhà, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Chị T đã cùng con ra ở
trọ nhưng anh L thường xuyên tìm đến nơi chị làm việc để chửi bới, đe doạ chị.
Anh chị hiện đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế.
Đến nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh
phúc, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
- Về con chung: Chị T và anh L có 01 con chung là Trịnh Ánh D, sinh ngày
31/7/2020. Từ khi vợ chồng sống ly thân, chị là người trực tiếp nuôi cháu D. Chị T
đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị và anh
L tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị T và anh L không có tài sản chung nên không yêu
cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trịnh Đức L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trịnh Đức L và chị Quách Thị T kết hôn trên
cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 26/12/2018 tại Ủy ban nhân dân
phường H, quận L, thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu
thuẫn gì. Nay chị T có đơn xin ly hôn, quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn,
đề nghị Toà án hoà giải cho vợ chồng đoàn tụ.
- Về con chung: Anh L và chị T có 01 con chung là Trịnh Ánh D, sinh ngày
31/7/2020. Anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Anh L và chị T không có tài sản chung nên không yêu
cầu Toà án giải quyết.
* Tại phiên tòa:
Chị T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh L vắng mặt tại
phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.