CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 18 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng
H. Đến năm 2023 thì vợ chồng xảy ra muân thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan
điểm sống, tính tình trái ngược, hai bên gia đình đã tiến hành hoà giải cho hai vợ
chồng nhiều lần nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn và
vợ chồng đã sống ly thân đã 2 năm nay. Nay bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã
thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Đà Nẵng giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Thanh H1
2. Về con chung: Bà Đặng Thị Thục Đ xác nhận vợ chồng bà có 02 người con
chung là Phạm Nhật A , sinh năm 2001; Phạm Thục H2, sinh năm 2026. Các con
chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị Thục Đ xác nhận vợ chồng
không có tài sản chung nên không yêu cầu giải Tòa án giải quyết. Đồng thời xác
nhận vợ chồng không có nợ chung.
Tại phiên toà, nguyên đơn bà Bà Đặng Thị Thục Đ có đơn xin xét xử vắng mặt
và vẫn giữ nguyên yêu cầu về việc ly hôn với ông Phan Thanh H1
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Phan Thanh H1 đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến cho rằng kể từ khi thụ lý vụ án
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và
người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng theo quy định tại Điều 30, điểm
b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình
3
giải quyết vụ án, ông Phan Thanh H1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn
vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến. Nguyên đơn là bà Đặng
Thị Thục Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.