CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 02 năm 2026 và quá trình tố tụng, bà
Ninh), thời gian đầu chung sống hạnh phúc khoảng 6 năm phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, nhiều lần hàn
gắn tình cảm vợ chồng nhưng không hòa hợp. Bà T cho rằng tình cảm vợ chồng
2
không còn hạnh phúc, không thể kéo dài hôn nhân nên bà L yêu cầu ly hôn với ông
Bùi Đức Thanh S.
Trong quá trình chung sống hôn nhân giữa bà và ông Bùi Đức Thanh S có
hai người con chung tên là Bùi Đức Thanh D, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2014 và
Bùi Đức Thanh H, sinh ngày 20 tháng 7 năm 2016. Bà T yêu cầu được quyền trực
tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai người con chung có tên nêu
trên. Khi khởi kiện bà T yêu cầu ông S cấp dưỡng cho bà nuôi dưỡng mỗi người
con, mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng). Đến ngày 21 tháng 4 năm 2026, bà T
có bản tự khai xác định: Bà yêu cầu ông S cấp dưỡng mỗi tháng cho bà nuôi dưỡng
mỗi người con một tháng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Đồng
thời, bà T xác định: Về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết và cam kết
không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 01 tháng 4 năm 2026, ông Bùi Đức Thanh S xác định:
Ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh T, ông đồng ý cấp
dưỡng cho bà T nuôi dưỡng hai người con, mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Tại bản tự khai ngày 23 tháng 02 năm 2026, người con chung có tên là Bùi
Đức Thanh D xác định: Khi cha mẹ cháu là ông Bùi Đức Thanh S, bà Nguyễn Thị
Thanh T là ly hôn thì cháu có nguyện vong sống cùng với mẹ cháu là bà Nguyễn
Thị Thanh T.
Tại bản tự khai ngày 23 tháng 02 năm 2026, người con chung có tên là Bùi
Đức Thanh H xác định: Khi cha mẹ cháu là ông Bùi Đức Thanh S, bà Nguyễn Thị
Thanh T là ly hôn thì cháu có nguyện vong sống cùng với mẹ cháu là bà Nguyễn
Thị Thanh T.
Quá trình tố tụng, ông Bùi Đức Thanh S, bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin
vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.