Thông tư liên tịch01/2016/TTLT-TANDTC-Ban hành: 06/01/2016Còn hiệu lực
Thông tư liên tịch Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình
Mục lục - 5 điều ▼
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư liên tịch này hướng dẫn thi hành quy định về xử lý việc kết hôn trái pháp
luật, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu và nguyên tắc giải quyết tài
sản của vợ chồng khi ly hôn tại các điều 11, 50 và 59 của Luật hôn nhân và gia đình.
Điều 2. Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật
Khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào
điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình để xem xét,
quyết định xử lý việc kết hôn trái pháp luật và lưu ý một số điểm như sau:
1. “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam đã đủ hai mươi
tuổi, nữ đã đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh.
Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:
a) Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì
tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;
-- 1 of 9 --
4 CÔNG BÁO/Số 159 + 160/Ngày 04-02-2016
b) Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày
sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh.
Ví dụ: Chị B sinh ngày 10-01-1997, đến ngày 08-01-2015 chị B đăng ký kết
hôn với anh A tại Ủy ban nhân dân xã X. Tại thời điểm đăng ký kết hôn chị B chưa
đủ 18 tuổi (ngày chị B đủ 18 tuổi là ngày 10-01-2015), như vậy, theo quy định tại
khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì chị B đã đủ tuổi kết
hôn, tuy nhiên vì ngày chị B đăng ký kết hôn Luật hôn nhân và gia đình đã có hiệu
lực (ngày 01-01-2015) nên chị B đã vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.
2. “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam nữ xác lập quan
hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ.
3. “Lừa dối kết hôn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và
gia đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia
hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị
lừa dối đã không đồng ý kết hôn.
4. “Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của
Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn
nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết
hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà
chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ
chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của
Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có
sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.
5. Việc xác định thời điểm “cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn”
quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình phải căn cứ vào các
quy định của pháp luật. Tòa án yêu cầu đương sự xác định và cung cấp các tài liệu,
chứng cứ để xác định thời điểm cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn
theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.
Ví dụ 1: Trường hợp kết hôn khi một bên bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối
kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật
hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, nếu sau khi bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối
kết hôn mà bên bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn đã biết nhưng đã thông
cảm, tiếp tục chung sống hòa thuận thì thời điểm đủ điều kiện kết hôn là thời điểm
đương sự biết mình bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn nhưng vẫn tiếp tục sống chung
như vợ chồng.
-- 2 of 9 --
CÔNG BÁO/Số 159 + 160/Ngày 04-02-2016 5
Ví dụ 2: Ngày 15-01-2005, chị B kết hôn với anh A. Đến ngày 15-01-2010, chị B
lại kết hôn với anh C. Ngày 25-01-2012, Tòa án có quyết định tuyên bố anh A
chết. Ngày 12-6-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn
trái pháp luật giữa chị B và anh C. Tại phiên họp, chị B và anh C đều yêu cầu công
nhận quan hệ hôn nhân thì chị B và anh C phải cung cấp Quyết định của Tòa án
tuyên bố anh A đã chết để xác định thời điểm chị B và anh C đủ điều kiện kết hôn.
Trong trường hợp này, thời điểm chị B và anh C có đủ điều kiện kết hôn là thời
điểm mà Tòa án xác định anh A chết được ghi trong quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật.
Điều 3. Thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 10 của Luật hôn nhân và gia
đình có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Kèm theo đơn yêu
cầu, người yêu cầu phải nộp Giấy chứng nhận kết hôn đối với cá nhân quy định tại
khoản 1 Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình hoặc giấy tờ, tài liệu khác chứng
minh đã đăng ký kết hôn; tài liệu, chứng cứ chứng minh việc kết hôn vi phạm điều
kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng không cung cấp được Giấy
chứng nhận kết hôn do bị thất lạc thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân đã cấp
Giấy chứng nhận kết hôn.
2. Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy
định tại khoản 6 Điều 3 và Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình khi việc kết hôn
đó đã được đăng ký tại đúng cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền đăng
ký kết hôn được xác định theo quy định của pháp luật về hộ tịch, pháp luật về hôn
nhân và gia đình.
Trường hợp nam, nữ đăng ký kết hôn tại đúng cơ quan có thẩm quyền đăng ký
kết hôn mà yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì thực hiện theo hướng
dẫn tại Điều 4 của Thông tư liên tịch này.
Trường hợp việc kết hôn được đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền
hoặc trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có
đăng ký kết hôn mà có yêu cầu Tòa án giải quyết thì thực hiện theo hướng dẫn tại
khoản 3 và khoản 4 Điều này.
3. Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại
không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn
hay không) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly
hôn thì Tòa án áp dụng Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công
nhận quan hệ hôn nhân giữa họ đồng thời hủy Giấy chứng nhận kết hôn và thông
báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định tại Điều 13 của
Luật hôn nhân và gia đình. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ
đối với con; tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy
định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình.
-- 3 of 9 --
6 CÔNG BÁO/Số 159 + 160/Ngày 04-02-2016
4. Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng
ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu
cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải
quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không
công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền,
nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì
giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình.
Điều 4. Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
1. Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp
luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn, điều kiện
công nhận quan hệ hôn nhân quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật hôn nhân và
gia đình để quyết định.
2. Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết
hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân
và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:
a) Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì
Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn
có đủ điều kiện kết hôn.
Ví dụ 1: Anh A sinh ngày 25-01-1996, chị B sinh ngày 10-01-1995. Ngày 08-01-2015,
anh A và chị B đăng ký kết hôn. Ngày 25-9-2016, Tòa án mở phiên họp giải quyết
yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Tại phiên họp, anh A và chị B đều yêu cầu
công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa
án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị B kể từ thời điểm cả anh A
và chị B đủ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 25-01-2016.
Ví dụ 2: Anh A và chị B đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 05-7-2009 và chưa ly hôn.
Ngày 10-5-2012, anh A lại kết hôn với chị C. Ngày 12-6-2014, chị B chết. Ngày
15-5-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp
luật giữa anh A và chị C. Tại phiên họp, anh A và chị C đều yêu cầu công nhận
quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem
xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị C kể từ thời điểm chị B chết,
tức là ngày 12-6-2014.
Ví dụ 3: Ngày 27-5-2009, chị A bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Ngày 30-9-2009, chị A kết hôn với anh B. Ngày 12-8-2012, Tòa án quyết định hủy
bỏ quyết định tuyên bố chị A mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 12-02-2015, Tòa
án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Tại phiên họp,
chị A và anh B đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các
điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của chị A
và anh B kể từ thời điểm chị A không còn bị mất năng lực hành vi dân sự theo
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
-- 4 of 9 --
CÔNG BÁO/Số 159 + 160/Ngày 04-02-2016 7
b) Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một
bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên
kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường
hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha,
mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn
đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại
Điều 12. của Luật hôn nhân và gia đình;
c) Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu
cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết
cho ly hôn. Trường hợp này, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết
hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của
cha, mẹ, con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời
điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy
định tại Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp
đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được
giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải
quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8
của Luật hôn nhân và gia đình thì thực hiện như sau:
a) Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy
việc kết hôn trái pháp luật;
b) Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn
nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Trường hợp quyết định theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản này thì Tòa
án áp dụng quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết hậu
quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.
4. Khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào
quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xác lập quan
hệ hôn nhân để xác định việc kết hôn có trái pháp luật hay không. Trình tự, thủ tục
giải quyết yêu cầu xử lý việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định
của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực tại thời điểm
giải quyết. Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc trường hợp cán bộ
và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ năm 1954, đã có vợ, có chồng ở miền
Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắc thì vẫn xử lý theo Thông tư số 60/TATC
ngày 22-02-1978 của Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn giải quyết các trường
hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác”.
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.