đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; từ 02 năm 03
tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp
hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là từ 05 năm
06 tháng tù đến 06 năm tù.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với số ma túy đã thu giữ của bị cáo và đối tượng Trần Văn P còn lại
sau khi giám định, thuộc danh mục chất gây ngh iện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu
hành, mua bán; các vỏ bì niêm phong và giấy gói; 01 bật lửa gas màu cam, đen,
bạc,; 01 kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu vàng, 01 dao lam bằng kim loại
thu giữ của bị cáo và Trần Văn P không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu
hủy.
-- 5 of 11 --
6
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, đỏ, cũ, đã qua sử
dụng, gắn biển kiểm soát 20AF-091.65, có số khung là RLHJA3932SY000411,
có số máy là JA70E-0757664. Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H. Tại phiên
tòa, bà Vũ Thị H3 là vợ của bị cáo xác định đó là tài sản chung của vợ chồng bà
và bị cáo H, đề nghị được xin lại chiếc xe để quản lý. Đề nghị HĐXX trả lại chiếc
xe mô tô trên cho và H3 quản lý, sử dụng.
- Đối với số tiền 2.195.000 đồng thu giữ của Trần Văn P. Tại phiên tòa, bà
Nguyễn Thị C là vợ P khai có liên quan đến ma túy, nếu các cơ quan tố tụng tịch
thu sung công quỹ thì bà cũng nhất trí, không có ý kiến gì nên đề nghị tịch thu
sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về án phí: Áp dụng
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Tại phần tranh luận: Bị cáo thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người
đúng tội, không oan, không có tranh luận gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Vũ Thị H3 và bà Nguyễn Thị
C không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi
khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên;
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện
đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan
tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định
pháp luật.
[2] Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp
với lời khai tại cơ quan điều tra biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng
đã thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ
căn cứ để xác định: Ngày 13/8/2025, tại khu vực nghĩa trang X, xã T, tỉnh Thái
Nguyên, Nguyễn Văn H là đối tượng đang được điều trị nghiện chất dạng thuốc
phiện bằng thuốc thay thế Methadol số 1 phường T, đã có hành vi sử dụng trái
phép chất ma túy, loại Heroine bằng hình thức hít vào cơ thể. Tại kết quả test
nhanh ma túy đối với H ngày 15/8/2025 và Kết luận giám định số 90/KLGĐĐC-
TTPY ngày 21/8/2025 kết luận H dương tính với ma túy.
-- 6 of 11 --
7
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 15/8/2025, H có hành vi tàng trữ 0,376 gam
Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, khi H đang tìm nơi để sử dụng thì bị
Tổ công tác Công an xã T, tỉnh Thái Nguyên bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã
truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội “Sử dụng trái
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự
năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày
25/6/2025) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Nội dung các điều luật quy
định như sau: