Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Chủ tịch, Tổng giám đốc
các Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này./.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Lê Minh Hưng
-- 2 of 67 --
CÔNG BÁO/Số 259/Ngày 30-04-2026 26
CHÍNH PHỦ
_________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_____________________________________
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
và Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Trung ương về
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ
công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện
mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số"
(Kèm theo Nghị quyết số 109/NQ-CP
ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ)
____________
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; phát huy vai
trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc
và sự nỗ lực, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh
nghiệp và từng người dân.
2. Thể hiện rõ những nội dung, nhiệm vụ chủ yếu để cụ thể hóa quan điểm,
đường lối, định hướng và nội dung liên quan của Nghị quyết Đại hội XIV và Kết
luận số 18-KL/TW thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, bảo
đảm phù hợp với tình hình trong nước, quốc tế và đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước trong thời gian tới, để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng “2 con số” gắn
với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền
kinh tế. Kiên định mục tiêu, hành động quyết liệt, hiệu quả; đánh giá sát tình
hình, linh hoạt các giải pháp vượt qua khó khăn của năm 2026, bứt phá trong giai
đoạn 2027 - 2030.
3. Chương trình hành động của Chính phủ là căn cứ để các bộ, ngành, cơ
quan trực thuộc Chính phủ ở trung ương và chính quyền địa phương cấp tỉnh xây
dựng chương trình hành động của từng bộ, ngành, cơ quan, địa phương theo chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và phải được tổ chức triển khai thực hiện
quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, nỗ lực phấn đấu cao nhất để góp phần thực hiện
thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước; là căn cứ quan trọng để các
bộ, cơ quan trung ương và địa phương kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả
theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, góp phần hoàn thành thắng lợi
các mục tiêu, nhiệm vụ trong giai đoạn 2026 - 2030 đã đề ra theo Nghị quyết Đại
hội XIV và Kết luận số 18-KL/TW.
-- 3 of 67 --
CÔNG BÁO/Số 259/Ngày 30-04-2026 27
4. Đẩy mạnh xây dựng đồng bộ thể chế kiến tạo và phát triển bền vững,
tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn; huy động, khơi thông và giải phóng
nhanh mọi nguồn lực; phát triển lực lượng sản xuất mới. Phân cấp, phân quyền
tối đa, thực chất gắn với cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm nguồn lực, nâng
cao năng lực thực thi, tăng cường giám sát, kiểm tra, đôn đốc; phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Bảo đảm phát triển kinh tế hài hòa với phát triển
văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
5. Bảo đảm cân đối bền vững, an toàn tài chính quốc gia, vai trò chủ đạo
của ngân sách trung ương. Thực hiện hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội trong
phân bổ, quản lý và sử dụng mọi nguồn lực. Quản lý nợ công thống nhất, chủ
động, an toàn, bền vững. Đầu tư công hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tập
trung cho các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, tạo lan toả lớn, bảo đảm
phát triển hài hoà giữa các vùng, miền, tạo động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn.
6. Trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính
phủ, yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan ở trung ương và địa phương phải nghiêm
túc quán triệt các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, các quan điểm chỉ đạo theo
Nghị quyết Đại hội XIV và Kết luận số 18-KL/TW, trong đó đặc biệt chú trọng
12 định hướng phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến
lược; với phương châm hành động “Đoàn kết, kỷ cương - Dân chủ, đổi mới -
Đột phá, phát triển - Gần dân, vì dân”; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên, nhất
là người đứng đầu; xây dựng Chính phủ liêm chính, hành động, kiến tạo phát
triển, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, quyết tâm bứt phá,
góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát đề ra theo Nghị quyết Đại hội
XIV và Kết luận số 18-KL/TW: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát
triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng
cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh
trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở
thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao;
hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì
một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh,
hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
7. Trong quá trình tổ chức thực hiện, các bộ, cơ quan trung ương và Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố (sau đây gọi tắt là địa phương) phải quán triệt sâu
sắc các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, các quan điểm chỉ đạo của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng; phát huy tinh thần đoàn kết, kỷ cương, trách nhiệm, chủ động
đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần xây
dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Hiện thực hóa các
quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; tự cường,
tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới.
-- 4 of 67 --
CÔNG BÁO/Số 259/Ngày 30-04-2026 28
II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI 5 NĂM 2026 - 2030
1. Thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị
thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số"
Các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên nhận thức đầy
đủ tầm quan trọng và yêu cầu chiến lược, cấp bách thực hiện mục tiêu tăng trưởng
"2 con số" gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân; xác
định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hoá trong các chương trình,
kế hoạch công tác hằng năm, có nhiệm vụ, kết quả, sản phẩm cụ thể cho từng
ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu; kiểm
tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện. Tăng cường tuyên
truyền, vận động, hành động nêu gương để củng cố niềm tin, khát vọng phát triển
của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội.
2. Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, giải phóng sức sản xuất, huy động
mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển
Xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp để xác lập mô hình tăng
trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" gắn
với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật trong các
ngành, lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục, y tế, văn hóa và khoa học công nghệ; làm
cơ sở để thực hiện đặt hàng cho các đơn vị trong và ngoài nhà nước tham gia
cung ứng dịch vụ sự nghiệp công; tăng cường kiểm tra, giám sát. Nâng cao hiệu
quả tổ chức thi hành pháp luật, xây dựng tiêu chí đánh giá văn bản pháp luật sau
khi ban hành, bảo đảm chuyển tư duy đánh giá hiệu quả pháp luật từ "tốt trong
văn bản" sang "tốt trong cuộc sống". Tiếp tục có giải pháp để nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa
phương. Nghiên cứu, đề xuất các quy định nhằm bảo đảm hiệu năng, hiệu lực,
hiệu quả, thống nhất quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.
Khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế,
chính sách; rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phát
triển nền kinh tế số, đầu tư kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch,
thương mại, khoáng sản, sở hữu trí tuệ, phá sản, xây dựng… góp phần tháo gỡ
khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư
kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cải cách mạnh mẽ, cắt giảm
tối đa thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch; cắt giảm, đơn giản
hoá các điều kiện kinh doanh không cần thiết, mâu thuẫn, chồng chéo, không rõ
ràng; chuẩn hoá, số hoá toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số,
liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; rút ngắn tối đa thời gian, chi phí
tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam
vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào
-- 5 of 67 --
CÔNG BÁO/Số 259/Ngày 30-04-2026 29
năm 2028. Xây dựng, điều chỉnh các chiến lược và quy hoạch các cấp bảo đảm
đồng bộ, thống nhất, tạo điều kiện cho huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực
hiệu quả.
Tiếp tục thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng, đồng bộ trong các lĩnh
vực tài chính, đầu tư, xây dựng, đất đai và các lĩnh vực khác gắn với tăng cường
kiểm tra, giám sát. Tổng kết, đánh giá việc thực hiện thí điểm các cơ chế, chính
sách đặc thù đang áp dụng cho các địa phương để nghiên cứu, thể chế hoá thành
chính sách chung cho cả nước.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển năng lượng, đặc biệt
là trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng tái tạo. Xây dựng thể chế thúc đẩy phát
triển các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế không gian
tầm thấp, kinh tế bạc, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế chia sẻ, kinh tế ban
đêm… Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phát triển công nghệ tài
chính (Fintech), tài sản mã hoá, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình kinh tế mới
nổi khác. Thí điểm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong các lĩnh vực mới như
công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi năng lượng, công nghệ số…
Xây dựng cơ chế, chính sách huy động nguồn lực phát triển các công trình
hạ tầng chiến lược như: đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi, trung tâm dữ liệu quốc
gia, các mô hình kinh tế đột phá gồm: Đặc khu kinh tế, đặc khu công nghệ, khu
thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế. Ban hành cơ chế, chính sách giao,
đặt hàng khu vực tư nhân tham gia vào các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trọng
điểm, dự án, công trình, nhiệm vụ quan trọng quốc gia, phát triển công nghiệp
quốc phòng, an ninh.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển mạnh kinh tế nông nghiệp số, nông
nghiệp thông minh, nông nghiệp xanh và nông nghiệp tuần hoàn; chính sách
quản lý, sử dụng hợp lý, linh hoạt đất trồng lúa; cơ chế, chính sách về đất đai,
đầu tư, bảo hiểm, hợp tác công tư… cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Ưu tiên
đầu tư, thử nghiệm, thí điểm các cơ chế, chính sách vượt trội cho các mô hình
sản xuất nông nghiệp dựa trên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số,
phát triển xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.
3. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số làm động lực chính
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Thúc đẩy tăng
trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm
các cân đối lớn của nền kinh tế, nợ công, bội chi ngân sách nhà nước trong giới
hạn quy định. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt giữa
-- 6 of 67 --
CÔNG BÁO/Số 259/Ngày 30-04-2026 30
chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác, bảo đảm
cung ứng vốn cho nền kinh tế thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số"; kiên
quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Chính phủ chủ
động điều chỉnh các loại thuế, phí trong trường hợp khẩn cấp.
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế; tăng cường huy động nguồn
lực cho phát triển; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống
(đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), phát triển mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực, mô hình
kinh tế mới, động lực tăng trưởng mới. Quản lý thị trường bất động sản phát triển
lành mạnh, minh bạch, bền vững, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhà ở của người dân.
Cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước, tăng chi cho đầu tư phát triển, tập trung
vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên; tạo đột phá mạnh về cơ chế, chính sách nâng cao
chất lượng, hiệu quả đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Xây
dựng cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực theo
các mô hình hợp tác công - tư.
Thực hiện quyết liệt các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán, thị
trường trái phiếu doanh nghiệp ổn định, an toàn, lành mạnh, trở thành kênh huy
động vốn trung và dài hạn hiệu quả phục vụ tăng trưởng hai con số, giảm sự phụ
thuộc vào hệ thống ngân hàng; triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín
nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng khoán; ban hành các cơ chế, chính
sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính
quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp,
các quỹ đầu tư quốc tế; phát triển đa dạng các loại hình nhà đầu tư tổ chức, phát
triển thị trường tín chỉ các-bon và các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại theo
thông lệ quốc tế; điều chỉnh hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu của ngân
hàng chính sách xã hội; mở rộng tỉ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề
không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng; đẩy mạnh việc
xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo; nâng cao chất lượng, hiệu quả
tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống; tăng vốn điều lệ cho các ngân
hàng thương mại nhà nước từ các nguồn: lợi nhuận sau thuế và trích lập các
quỹ, phát hành cổ phiếu, ngân sách nhà nước... theo quy định của pháp luật và
phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế; phát triển lành mạnh và đa dạng hoá
các nguồn vốn, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp trong nước,
ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tế tập thể. Nâng cao hiệu
quả quản lý thị trường vàng.
Xây dựng và hiện đại hoá nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Xây dựng,
hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đột phá, đồng bộ để phát triển,
nâng cao sức cạnh tranh các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn,
phát triển các sản phẩm công nghiệp trọng điểm. Nâng cao năng lực sản xuất các
ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự chủ, tự cường về nguyên vật liệu đầu
-- 7 of 67 --
CÔNG BÁO/Số 259/Ngày 30-04-2026 31
vào cho sản xuất, nguồn nhân lực và khoa học công nghệ gắn với tăng cường vị
thế, vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị khu vực, toàn
cầu. Tập trung nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp nền
tảng như năng lượng, hạt nhân, cơ khí chế tạo, luyện kim, vận tải đường sắt, đóng
tàu, vật liệu mới, hoá chất, công nghệ số, sinh học, công nghiệp hỗ trợ gắn với
tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ưu tiên phát triển, từng bước làm chủ công
nghệ sản xuất trong một số ngành công nghiệp mới nổi như công nghiệp chip
bán dẫn, công nghiệp robot và tự động hoá, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến,
công nghiệp sinh học, công nghiệp môi trường, năng lượng tái tạo, năng lượng
mới… Phát triển các cụm liên kết ngành công nghiệp chuyên môn hoá và các tổ
hợp công nghiệp quy mô lớn.
Phát triển các ngành dịch vụ theo hướng hiện đại hoá hệ sinh thái dịch vụ,
phát triển một số ngành, sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, hàm lượng tri
thức, công nghệ và giá trị tăng cao. Xây dựng, phát triển các trung tâm logistics
lớn, đạt chuẩn quốc tế, gắn kết chặt chẽ với cảng biển, cảng hàng không trung
chuyển quốc tế. Hiện đại hoá hệ thống hạ tầng thương mại, phát triển thương mại
điện tử.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng đẩy mạnh
chuyển đổi xanh, sinh thái, tuần hoàn, theo chuỗi giá trị, có hiệu quả; phát triển
các vùng sản xuất hàng hoá lớn, giá trị gia tăng cao; phát triển thương hiệu các
ngành hàng nông sản chiến lược, chủ lực. Tổ chức sản xuất kinh doanh theo
chuỗi giá trị gắn với thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; phát
triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.
Nghiên cứu đổi mới căn bản chính sách về hạn mức đất lúa theo hướng chuyển
từ quy định cứng về diện tích tối thiểu sang quy định linh hoạt chuyển đổi diện
tích đất trồng lúa kém hiệu quả nhưng phải quản lý chặt chẽ việc chuyển đổi,
tránh áp dụng tuỳ tiện, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với triển khai hiệu quả
các nghị quyết của Bộ Chính trị. Đổi mới kinh tế nhà nước, trọng tâm là quản trị
doanh nghiệp nhà nước theo các chuẩn mực quốc tế, tăng cường hiệu quả và vai
trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước trong một số lĩnh vực quan trọng; tiếp tục
đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm hiệu quả,
không làm thất thoát, lãng phí. Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng
công ty, doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Phát triển
khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc
gia. Có chính sách phù hợp, tạo môi trường minh bạch, thuận lợi, an toàn để
doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận bình đẳng và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực. Xây dựng, triển khai các chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực tài
chính, công nghệ, quản trị cho doanh