CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcQuyết định hoãn phiên tòa số: 101/2026/QĐST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2026,
tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn là ông Trương Hoàng G trình bày như
sau:
2
Nguyên vào khoảng vào năm 2022, ông H, bà D và vợ chồng ông Ngô
Khánh L, bà Tôn Xuân Q có quen biết với nhau, hai bên có thỏa thuận hùn vốn
kinh doanh, ông L giới thiệu ông H là có nhà máy rủ ông H, bà D hùn vốn kinh
doanh và dẫn ông H, bà D đến địa điểm nhà máy để xem. Vì tin tưởng với nhau
nên ngày 06/06/2023 ông H, bà D và vợ chồng ông Ngô Khánh L có lập tờ giấy
thỏa thuận góp vốn vào để sản xuất nhựa tái chế ra sản phẩm bọc chợ hai bên có
thỏa thuận như sau:
Ông Ngô Khánh L cùng vợ Tôn Xuân Q có nhận số tiền góp vốn của ông
H, bà D để kinh doanh nhà máy sản xuất nhựa tái chế với số tiền là:
2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) với lợi nhuận cứ mỗi tháng chia đều vợ chồng
ông H được hưởng là: 100.000.000 đồng, được nhận vào ngày 06 hàng tháng,
thời gian góp vốn là 05 năm (60 tháng) tính từ ngày nhận tiền 06/6/2023 đến
ngày 06/9/2023, nếu vợ chồng ông H có nhu cầu rút vốn trước hạn thì vợ chồng
ông L, bà Q trả lại vốn là: 2.000.000.000 đồng, không được khấu hao vào lợi
nhuận, vợ chồng ông L, bà Q có lập biên nhận, nhận tiền có ghi ró nội dung thỏa
thuận cùng ký tên (giao chồng ông H giữ làm bằng chứng).
Sau khi góp vốn thì vợ chồng ông L, bà Q đã chia lợi nhuận cho vợ chồng
ông H, bà D được 03 tháng (từ 06/06/2023 đến 06/09/2023) thì sau đó không
chia lợi nhuận cho vợ chồng ông H như thỏa thuận nữa, nên vợ chồng ông H yêu
cầu rút vốn lại thì ông L, bà Q tránh mặt, vợ chồng ông H nhiều lần liên lạc qua
số điện thoại ông L sử dụng thì ông cứ hứa lần hẹn lựa và trì hoãn kéo dài thời
gian cho đến nay, sau đó vợ chồng ông H đi tìm hiểu thì được biết ông L, bà Q
không có đứng tên vào nhà máy sản xuất nhựa tại tắc cậu như lời nói của vợ
chồng ông trước đây, vì vậy:
Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của ông H, bà D là ông G yêu cầu Tòa án
Khu vực 1 - An Giang giải quyết như sau:
Buộc ông Ngô Khánh L, bà Tôn Xuân Q phải trả toàn bộ số tiền góp vốn
cho vợ chồng ông H, bà Doanh số tiền là: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.