Văn bản hành chính địa phương81/2026Ban hành: 20/05/2025Còn hiệu lực
Văn bản 81/2026 - TÒA ÁN NHÂN DÂN (2025)
🌐 Tên văn bản theo 7 thứ tiếng (bản dịch máy, tham khảo)
- EnglishDocument 81/2026 — Vietnam (2025)
- 中文文件 81/2026 — 越南 (2025)
- 日本語文書 81/2026 — ベトナム (2025)
- 한국어문서 81/2026 — 베트남 (2025)
- FrançaisDocument 81/2026 — Vietnam (2025)
- РусскийДокумент 81/2026 — Вьетнам (2025)
- EspañolDocumento 81/2026 — Vietnam (2025)
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Xem bản PDF gốc (giữ nguyên dấu, chữ ký, định dạng)
số tiền 27.500.000 đồng, cùng các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc ông P
khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã
chiếm theo quy định.
Sau đó, UBND thị xã N tiến hành giao quyết định cho ông P, ông P có
nhận quyết định nhưng không đồng ý ký nhận và cũng không chấp hành theo
quyết định xử phạt, đồng thời khiếu nại yêu cầu thu hồi, hủy Quyết định xử phạt
hành chính số: 04/QĐ-XPHC của UBND thị xã N. Ngày 02/4/2024, UBND thị
xã N ra Quyết định số 731/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại, qua đó, giữ
nguyên Quyết định xử phạt số: 04/QĐ-XPHC. Sau đó, Đỗ Văn P tiếp tục gửi
đơn khiếu nại lần hai về việc khiếu nại và yêu cầu thu hồi, hủy Quyết định xử
phạt hành chính số: 04/QĐ-XPHC của UBND thị xã N. Ngày 29/7/2024, UBND
tỉnh S ban hành Quyết định số 1719/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của
Đỗ Văn P (lần hai). Kết quả: Công nhận và giữ nguyên Quyết định số 731/QĐ-
UBND của UBND thị xã N và yêu cầu Đỗ Văn P chấp hành Quyết định số
04/QĐ-XPHC về việc xử phạt hành chính, bác khiếu nại của Đỗ Văn P.
Do bị cáo Đỗ Văn P không chấp hành quyết định xử phạt hành chính trên
nên ngày 31/10/2024, UBND thị xã N ban hành Quyết định số 14/QĐ-CCXP về
việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính và thành lập ban thực
hiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính đối với Đỗ Văn P. Quá
trình triển khai quyết định cưỡng chế thì bị cáo P không chấp hành; Ban cưỡng
chế đã tiến hành đo đạc, cắm trụ ranh mốc và giao lại đất cho bà Đỗ Thị T2.
Đến ngày 27/11/2024, Đỗ Văn P tiếp tục dùng máy ra trang, trạc và sạ lúa
trên phần đất của bà T2 đã gieo sạ trước đó nên ngày 03/12/2024, UBND xã L
-- 3 of 8 --
4
lập biên bản vi phạm hành chính đối với Đỗ Văn P về hành vi bao chiếm đất
theo quy định tại điểm d khoản 3 điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP ngày
04/10/2024 của Chính Phủ, có thông qua và giao biên bản vi phạm hành chính
cho ông P, ông P nhận biên bản nhưng không đồng ý ký tên.
Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên ngày 11/01/2025, UBND thị
xã N chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N, tỉnh Sóc
Trăng thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Bản án số 13/2026/HS-ST ngày 27/02/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 7 – Cần Thơ đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38,
điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Vi phạm các quy định về sử dụng
đất đai”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính
kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/12/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Văn P có nghĩa vụ bồi thường cho
bị hại bà Đỗ Thị T2 số tiền 21.650.000 đồng (hai mươi mốt triệu sáu trăm năm
mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án dân sự đối với
người phải thi hành án nếu chưa trả được số tiền phải thi hành án thì phải chịu
lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Đỗ Văn P nộp án phí hình sự sơ thẩm
200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 1.082.500 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/3/2026 bị cáo Đỗ Văn P kháng cáo kêu
oan; ngày 09/3/2026 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị T
kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:
Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ý kiến của bị cáo và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị T yêu cầu xem xét việc bị cáo không
phạm tội với lý do: Về nguồn gốc đất bị cáo chiếm để canh tác sâu xa là của ông
Đỗ Văn H (cha bị cáo) khai phá, sau đó ông H giao lại cho ông Đỗ Văn H1 (là
cha dượng của ông H) đứng tên sử dụng. Sau đó ông H1 trả lại đất cho ông H,
ông H giao lại cho bà L (mẹ của bị cáo) sử dụng, phần đất này bà L giao lại cho
bị cáo canh tác. Vì vậy, bị cáo chưa thống nhất với nhận định của Bản án sơ
thẩm số 21/DSST ngày 12/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh
-- 4 of 8 --
5
Sóc Trăng là đất của ông Đỗ Văn M và bà Trương Thị Đ (ông bà nội của bị
cáo). Vấn đề này có ông Đỗ Văn T8 và ông Bùi Văn T9 xác nhận.
Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại nguồn gốc đất để xét yêu cầu
kháng cáo kêu oan của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu:
Về thủ tục:
Sau khi án sơ thẩm xét xử ngày 27/02/2026, đến ngày 04/3/2026 bị cáo
Đỗ Văn P kháng cáo. Yêu cầu kháng cáo của bị cáo là trong hạn luật định nên
được xem xét ở cấp phúc thẩm.
Về nội dung:
Vấn đề bị cáo tranh chấp đất với bị hại là bà Đỗ Thị T2 với gia đình của bị
cáo đã được giải quyết bằng bản án dân sự sơ thẩm số 21/DSST ngày 12/4/2018
của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Bà T2 đã được công nhận
được hưởng thừa kế một phần trong tổng số đất có diện tích 2526,7 m2 tại thửa
đất số 656. Căn cứ bản án này có nội dung buộc bị cáo và gia đình của bị cáo
phải hoàn trả lại giá trị một phần của thửa 656. Sau khi bản án dân sự sơ thẩm số
21/DSST ngày 12/4/2018 có hiệu lực pháp luật, một phần của thửa 656 được
bán đấu giá. Bà T2 được trúng đấu giá. Sau đó bà T2 được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất vào năm 2021 với diện tích là 1380,3 m2 (thửa mới được đổi
tên là 1111). Bà T2 canh tác thì bị bị cáo chiếm để canh tác gieo sạ. Sau nhiều
lần bị xử phạt hành chính bằng các quyết định số QĐ453THADS,
QĐ455THADS của cơ quan thi hành án, bị cáo đều không chấp hành nên đã bị
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã N ra quyết định xử phạt hành chính số 04/QĐ-
XPHC ngày 11/01/2024, bị cáo vẫn không chấp hành quyết định nên vụ việc bị
chuyển sang cơ quan điều tra giải quyết.
Ngày 27/02/2026, bị cáo bị Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ xử phạt
về tội “vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”, đã áp dụng các tình tiết giảm
nhẹ cho bị cáo như phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo
chưa có tiền án tiền sự, xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù là tương
xứng. Bị cáo kháng cáo kêu oan nhưng căn cứ vào việc bị cáo nhiều lần bị xử
phạt hành chính, không chấp hành nên cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án là có
căn cứ. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh nói trên là phù hợp với quy định
của pháp luật. Bị cáo kháng cáo yêu cầu tuyên bị cáo không phạm tội là chưa
phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ
thẩm trong thời hạn nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
-- 5 of 8 --
6
[2] Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội; tuy nhiên căn
cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của người bị hại, người làm
chứng, đủ cơ sở xác định:
Bị cáo Đỗ Văn P đã có 01 tiền sự vào ngày 11/01/2024, bị Chủ tịch
UBND thị xã N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 04/QĐ-XPHC về
hành vi chiếm đất nông nghiệp là đất trồng lúa của bà Đỗ Thị T2, quy định tại
điểm d khoản 3 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của
Chính phủ, xử phạt số tiền 27.500.000 đồng, cùng các biện pháp khắc phục hậu
quả: Buộc ông P khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và
buộc trả lại đất đã chiếm theo quy định.
Đến nay bị cáo P chưa chấp hành quyết định xử phạt và chưa hết thời hạn
được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vào ngày 27/11/2024 bị
cáo P tiếp tục có hành vi chiếm đất nông nghiệp là đất trồng lúa thuộc quyền sử
dụng hợp pháp của bà Đỗ Thị T2 tại thửa đất số 1111 (trước đây thuộc một phần
thửa đất 656) tờ bản đồ số 10 toạ lạc tại ấp M, xã T, thành phố Cần Thơ (trước
đây thuộc ấp M, xã L, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng) với tổng diện tích đất
1.380,3m2.
Ngày 27/02/2026, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ xét
xử về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” theo khoản 1 Điều 228 của
Bộ luật Hình sự.
Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù. Người bị hại Đỗ
Thị T2 thống nhất bản án, không kháng cáo. Bị cáo kháng cáo kêu oan (đơn đề
ngày 04/3/2026), người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị T
kháng cáo xin hủy án (đơn đề ngày 09/3/2026).
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề
nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không phạm tội “Vi phạm các quy định về sử
dụng đất đai”, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị T cũng đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo cho rằng phần đất bị cáo chiếm để canh tác là của ông Bùi Văn H2
(ông nội sau của bị cáo), không phải đất của ông Đỗ Văn M và bà Trương Thị Đ
(ông bà nội ruột của bị cáo). Theo bị cáo trình bày là ông H2 đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, cho nên chỉ có con ông H2 mới có quyền giao
đất cho người khác sử dụng. Bà T2 không được quyền hưởng thừa kế phần đất
này.
Tuy nhiên, việc ông Bùi Văn H2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì bị cáo không có chứng cứ cung cấp. Hội đồng xét xử xét thấy việc
bà Đỗ Thị T2 được thừa kế một phần của thửa 656 đã được công nhận tại bản án
dân sự sơ thẩm số 21/DSST ngày 12/4/2018. Bản án này đã có hiệu lực pháp
luật. Bà T2 đã được Ủy ban nhân dân thị xã N cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH01834 ngày 24/11/2021 công nhận quyền sử dụng đất một phần
của thửa 656 (đổi tên thành thửa 1111) với diện tích là 1.380,3m2. Việc bà T2
-- 6 of 8 --
7
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào việc mua đấu giá phần
đất này theo đúng quy định pháp luật. Bị cáo đã bị cưỡng chế giao đất, bị Ủy
ban nhân dân thị xã N ra quyết định xử phạt hành chính số 04/QĐ-XPHC ngày
11/01/2024. Bị cáo đã bị cơ quan điều tra khởi tố vụ án. Cho nên việc bị cáo
nhiều lần chiếm đất của bà T2 để sử dụng đã bị xử phạt hành chính đã cấu thành
tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”, cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1
giảm nhẹ, cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng để xử phạt bị cáo với mức án 01 năm 06 tháng tù là có căn
cứ và không oan. Bị cáo kháng cáo yêu cầu xem xét bị cáo không phạm tội “Vi
phạm các quy định về sử dụng đất đai” là chưa có căn cứ để xem xét. Quan điểm
của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét lại nguồn gốc đất để xác định
bị cáo bị xét xử theo Điều 228 Bộ luật Hình sự là oan cũng không có cơ sở để
chấp nhận. Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm
sát không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ y án sơ thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo
quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn P. Không chấp nhận
kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị T. Giữ
nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2026/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38,
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.
Văn bản liên quan
Nguồn: mạng tri thức VietLex (liên kết trích tự động từ văn bản chính thống)