CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcchung với nhau từ lâu, không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt
được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Văn Đ có ba con chung là Phạm
Trí T1, sinh ngày 01/10/2006; Phạm Chí T2, sinh ngày 26/01/2010 và Phạm Chí T3,
sinh ngày 02/9/2011. Con chung Phạm Trí T1 đã trên 18 tuổi nên bà T không yêu cầu
giải quyết. Đối với Phạm Chí T2 và Phạm Chí T3 từ trước đến nay đều sống cùng với
ông Đ nên bà T đồng ý giao cả hai con chung cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con chung cho đến các con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Về tài sản chung, công nợ: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo bản tự khai, bị đơn ông Phạm Văn Đ trình bày: Ông Đ kết hôn với bà T
trên cở sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Hà
Tây. Ông Đ và bà T có ba con chung là Phạm Trí T1, sinh ngày 01/10/2006; Phạm
Chí T2, sinh ngày 26/01/2010 và Phạm Chí T3, sinh ngày 02/9/2011. Trong quá trình
chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả và không sống chung với nhau đã
hơn 10 năm. Trong thời gian ly thân, bà T đi đâu, làm gì ông Đ không biết. Ông Đ
không đồng ý đối với yêu cầu ly hôn của bà T.
Về con chung: Ông Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục Phạm Chí T2 và Phạm Chí T3 cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không có
Về công nợ: Ông Đ xác định có nợ chung nhưng không yêu cầu tòa án giải quyết
nên không đề cập
Tại bản tự khai Phạm Chí T2, sinh ngày 26/01/2010 và Phạm Chí T3, sinh ngày
02/9/2011 đều có nguyện vọng được ở với bố Phạm Văn Đ
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – ĐắkLắk đã tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Phạm Văn Đ để tham gia tố tụng, nhưng ông
Phạm Văn Đ vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành được phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Căn cứ vào Điều 203
Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đ đưa vụ án ra xét xử theo quy
định của pháp luật.
Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai
không có lý do. Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.