nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên
án sơ thẩm.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu
trắng, BKS 35K1-682.44; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 35K1-59534; 01
xe mô tô nhãn hiệu Exciter, BKS 15G1-42796; xe mô tô Honda Ablade BKS 36AG-
037.67 và các giấy tờ liên quan đến phương tiện. Sau khi định giá xác định giá trị thiệt
hại, Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 36AG-03767 cho anh Trần Văn
C2.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 35K1-682.44 do N1 điều khiển là của chị Phạm
Thị T; chiếc xe mô tô BKS 35K1-595.34 là của chị Nguyễn Thị L; chiếc xe mô tô
BKS 15G1-427.96 là của anh Bùi Văn H2. Quá trình điều tra làm rõ các chủ phương
tiện là bố, mẹ của các bị can đi làm về muộn, để xe ở nhà, các bị can tự ý lấy đi chơi
và thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT đã trả lại phương tiện và giấy tờ
-- 5 of 9 --
6
liên quan cho các chủ sở hữu hợp pháp. Các bị can Nguyễn Ngọc V, Phạm Hải N1 và
Phạm Quang C1 điều khiển xe mô tô khi chưa có giấy phép lái xe, là hành vi vi phạm
hành chính về lĩnh vực giao thông đường bộ theo quy định tại
Nghị định
168/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao
thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T chuyển hồ sơ đến Công an xã H để xử phạt vi phạm
hành chính theo thẩm quyền.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình; Điều
21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị
buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Các bị cáo Trần Tuấn H, Phạm Quang C1 nhất trí với bản luận cứ không bào
chữa bổ sung hoặc tranh luận thêm gì khác.
Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 –
Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại Bản luận tội nêu trên, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt để cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa, lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng :
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 -Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia
tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người làm chứng chị T, anh H2 vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt
của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Đối với những người làm chứng
có mặt tại phiên tòa trình bày như nội dung đã khai trong qúa trình điểu tra, không có
ý kiến bổ sung gì thêm. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung :
-- 6 of 9 --
7
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo ở giai
đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định pháp y
về thương tích, kết luận giám định về hình ảnh lưu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng
cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 23 giờ ngày 04/10/2025, tại Quốc lộ A, thuộc địa phận thôn L, xã H,
tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Ngọc V, Phạm Hải N1, Trần Tuấn H và Phạm Quang C1 có
hành vi điều khiển xe mô tô tay ga lùa, đuổi theo hai xe mô tô do anh Trần Văn C2 và
anh Trần Văn C điều khiển (vòng đi vòng lại nhiều lần trên Quốc lộ A) để trêu chọc
và áp sát chèn đầu xe dùng chân đạp vào đầu làm đầu xe và phương tiện của anh C2
ngã xuống đường. Gây tâm gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người đi đường và
người dân xung quanh tuyến đường quốc lộ 10, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an
toàn xã hội tại địa phương.
Do đó, hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây
rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 của
Bộ luật hình sự đối với H, C1 có khung hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng
đến 02 năm như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa truy tố các bị cáo
theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự công cộng,
ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo sợ, bức
xúc trong quần chúng nhân dân và chính quyền địa phương, xâm phạm sức khỏe của
người khác, do đó cần phải xử lý nghiêm.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc và cấu
kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp “Phạm tội có tổ chức. Người khởi xướng và
thực hành tích cực trong vụ án này là Nguyễn Ngọc V và Phạm Hải N1, tuy nhiên, V
và N1 đã được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Các bị cáo Trần Tuấn H và
Phạm Quang C1 đều phạm tội với vai trò tiếp theo là người thực hành, trong đó, hành
vi phạm tội của H cùng với V dùng xe mô tô vượt đuổi theo anh C2 và chửi bới anh
C2. Nên khi xem xét tính chất mức độ, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cần cho H mức
hình phạt cao hơn C1.
[4].Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5].Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm
tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần
Tuấn H, Phạm Quang C1 tham gia ủng hộ quỹ nhân đạo nên được hưởng thêm tình
tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6].Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo:
-- 7 of 9 --
8
Các bị cáo Trần Tuấn H, Phạm Quang C1 chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt,
có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội lần này các bị cáo luôn chấp hành đúng
chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nơi cư trú. Vì vậy, các bị cáo thỏa
mãn các điều kiện được hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và mục
3 Điều 2
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao và
Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về Sửa
đổi, bổ sung một số điều của
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật
hình sự về án treo. Do đó, các bị cáo không phải chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng
án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi
cư trú giám sát và giáo dục các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng
ngừa chung.
[7]. Trong vụ án này, các đối tượng Nguyễn Ngọc V, Phạm Hải N1 bị cáo phạm
tội chưa đủ 18 tuổi nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa đã áp dụng
biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Đối với hành vi cố ý gây thương tích, ngày 11/4/2026, anh Trần Văn C2 và chị
Trần Thị N2 có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình
sự và không có yêu cầu gì đối với những người gây thương tích cho mình. Do đó,
CQĐT không khởi tố đối với Phạm Hải N1, Nguyễn Ngọc V, Trần Tuấn H về tội gây
thương tích. Xét thấy yêu cầu là tự nguyện, khách quan. Nên HĐXX miễn xét.
[8]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều trả đã xác minh các bị cáo khi sử dụng xe
không phải là chủ sử dụng hợp pháp. Chủ sử dụng không biết nên đã trả lại vật chứng
theo quy định của pháp luật. HĐ xét xử miễn xét.
[9].Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn
án phí nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Tuấn H, Phạm Quang C1 phạm tội “Gây rối trật tự
công cộng”.
1.Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 17, Điều 58; Điều
65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Tuấn H 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách 24( hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58,