Số: 1877/Q
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcQUYẾT ĐỊNH
Ban hành Kế hoạch phát triển trồng trọt giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035 trên địa bàn tỉnh Gia Lai ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch phát triển trồng trọt giai
đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035 trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025;
Căn cứ Luật Trồng trọt năm 2018;
Căn cứ Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông
nghiệp và môi trường năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 94/2019/NĐ-CP ngày 13/12/2019 của Chính phủ về Quy
định chi tiết một số điều của Luật Trồng trọt về giống cây trồng và canh tác;
Căn cứ Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế,
chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầ u tư vào nông nghiệp, nông thôn;
Căn cứ Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính
sách khuyến khích phát triể n hợ p tác, liên kết trong sả n xuấ t và tiêu thụ sả n phẩ m
nông nghiệp;
Căn cứ Quyết định số 1748/QĐ-TTg ngày 30/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Chiến lược phát triển trồng trọt đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2050;
Căn cứ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ
2025 - 2030;
Căn cứ Kết luận số 162-KL/TU ngày 17/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
(khoá I), nhiệm kỳ 2025 – 2030 tại Hội nghị lầ n th ứ 14;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số
440/TTr-SNNMT ngày 10/4/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường; Thủ trưởng các sở, ban, ngành có liên quan; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. TM. ỦY BAN NHÂN DÂN KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH Dương Mah Tiệp ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc KẾ HOẠCH Phát triển trồng trọt giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035 trên địa bàn tỉnh Gia Lai (Ban hành Kèm theo Quyết định số 1877/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 của UBND tỉnh) Gia Lai có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển ngành trồng trọt với diện tích đất sản xuất lớn, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại cây trồng. Thời gian qua, ngành trồng trọt của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực, từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung, phát triển liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ, góp phần nâng cao giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sản xuất trồng trọt vẫn còn một số hạn chế như: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết bền vững; chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn chậm; hiệu quả sử dụng đất chưa cao; năng lực chế biến, bảo quản còn hạn chế; việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong sản xuất còn chưa đồng bộ. Do đó, việc xây dựng và ban hành Kế hoạch phát triển trồng trọt giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035 là cần thiết nhằm tổ chức lại sản xuất, phát huy tiềm năng, nâng cao hiệu quả, phát triển bền vững ngành trồng trọt, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Phầ n I THỰ C TRẠNG PHÁT TRIỂ N TRỒNG TRỌT GIA LAI GIAI ĐOẠN 2021 - 2025 I. TIỀM NĂNG, LỢI THẾ
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý Gia Lai được thành lập trên cơ sở sáp nhập tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai, với diện tích tự nhiên 21.576,53 km²; có 135 đơn vị hành chính, gồm 110 xã và 25 phường. Có vị trí địa lý quan trọng trong tam giác phát triển kinh tế - xã hội 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia; nằm trên hành lang thương mại quốc tế Myanmar, Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan, Bắc Campuchia vào khu vực Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung thông qua Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh đến Cảng biển Quy Nhơn - cửa ngõ giao thương quốc tế; đồng thời, nằm trên hành lang phát triển kinh tế - đô thị Bắc Nam thông qua đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 1A, Quốc lộ 14, kết hợp Cảng hàng không Pleiku, Cảng hàng không Phù Cát. Với lợi thế về vị trí địa lý của Gia Lai, là điều kiện thuận lợi và là nguồn lực quan trọng trong phát triển sản xuất và lưu thông nông sản hàng hóa của Gia Lai. 1.2. Đặc điểm địa hình Gia Lai có độ cao trung bình so với mực nước biển từ 700 - 800 m, độ dốc trung bình 3-150. Địa hình đa dạng, có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, nghiêng từ Đông sang Tây. Với đặc điểm địa hình đa dạng, các cao nguyên (Kon Hà Nừng, Pleiku), đồi gò và thung lũng, đồng bằng, kết hợp đất đỏ bazan màu mỡ, tạo lợi thế lớn phát triển nông nghiệp, đặc biệt là phát triển các cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, chanh dây, sầu riêng, chuối,… 1.3. Đặc điểm khí hậu Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, kết hợp giữa khí hậu cao nguyên đặc trưng của vùng Tây Nguyên và khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển. Với sự kết hợp giữa khí hậu cao nguyên và khí hậu ven biển, tạo nên bức tranh khí hậu đa dạng và phong phú, phù hợp cho nhiều đối tượng cây trồng sinh trưởng, phát triển. 1.4. Tài nguyên đất Diện tích đất nông nghiệp của Gia Lai có 1.927.322 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp có 976.841 ha (gồm có: đất trồng cây hàng năm 499.618 ha và 477.223 ha đất trồng cây lâu năm). Về điều kiện thổ nhưỡng: Gia Lai có 11 nhóm đất chính với 35 loại đất, trong đó nhóm đất đỏ vàng có diện tích 1.155.573 ha, chiếm 53,56% tổng diện tích tự nhiên. Nhóm đất đỏ vàng là nhóm đất có nhiều loại đất quý hiếm, đặc biệt là đất đỏ bazan - loại đất rất thích hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng. 1.5. Tài nguyên nước Trên địa bàn tỉnh hiện có 283 hồ chứa, 486 đập dâng, 274 trạm bơm; 7.813 km kênh mương các loại. Tổng năng lực thiết kế tưới cho khoảng 187.910 ha đất gieo trồng. Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình thuỷ điện và các công trình tạm, bán kiên cố; hàng ngàn ao, hồ nhỏ, giếng đào người dân tự đầu tư lấy nước tưới cho hàng trăm ngàn ha cây trồng. 1.6. Tài nguyên du lịch Với điều kiện địa lý đa dạng về địa hình, thiên nhiên đã ban tặng cho Gia Lai nhiều thắng cảnh. Bên cạnh nhiều thắng cảnh, Gia Lai có nền văn hóa truyền thống với 44 dân tộc anh em sinh sống, tiêu biểu cho di sản văn hóa phi vật thể “Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên”. Sự đa dạng của tài nguyên du lịch thiên nhiên và văn hóa của Gia Lai là lợi thế để kết hợp khai thác loại hình du lịch sinh thái gắn với phát triển nông sản hàng hóa của tỉnh.
2. Điều kiện kinh tế - xã hội
- Giai đoạn 2021 - 2025, ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh có bước phát triển khá toàn diện cả về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng bền vững, nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng; tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2021 - 2025 đạt 3,75%, chiếm tỷ trọng 27,2% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. - Hoạt động xuất khẩu của tỉnh ngày càng được mở rộng thị trường và tăng trưởng về kim ngạch. Đã thu hút được nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư xây dựng cơ sở sơ chế, nhà máy chế biến; đầu tư liên kết phát triển nông sản hàng hóa đảm bảo an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, thúc đẩy phát triển sản xuất hiệu quả và bền vững. - Hoạt động khoa học công nghệ được quan tâm, chú trọng. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ cao vào sản xuất trồng trọt. - Công tác an sinh xã hội được đảm bảo; cơ sở hạ tầng vùng nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn được quan tâm đầu tư; huy động nhiều nguồn lực, lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đảm bảo phục vụ phát triển sản xuất và lưu thông nông sản hàng hóa. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội là tiềm năng và nguồn lực quan trọng trong phát triển sản xuất trồng trọt. II. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT TRỒNG TRỌT GIAI ĐOẠN 2021 - 2025
1. Những kết quả đạt được
- Trong giai đoạn 2021 - 2025, sản xuất trồng trọt trên địa bàn tỉnh cơ bản duy trì ổn định, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, từng bước gắn với chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu. Công tác tổ chức lại sản xuất được quan tâm triển khai; việc hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh từng bước khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, ổn định sinh kế cho người dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh. - Tỉnh đã tập trung xây dựng, củng cố và phát triển các vùng nguyên liệu cây trồng hàng hóa chủ lực gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Đến nay, đã hình thành 09 vùng nguyên liệu đối với các cây trồng chủ lực của tỉnh gồm: cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, mía, sắn, sầu riêng, chuối và chanh dây. Đồng thời, toàn tỉnh tiếp tục duy trì, củng cố và mở rộng quy mô 217 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản hiện có; phấn đấu hình thành từ 300 - 350 chuỗi liên kết vào năm 2030. - Một số cây trồng hàng hóa chủ lực tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất trồng trọt của tỉnh. Năm 2025, diện tích cà phê đạt 108.987 ha, sản lượng 341.022 tấn; hồ tiêu 8.425 ha, sản lượng 26.632 tấn; điều 40.226 ha, sản lượng 38.125 tấn; cao su 86.064 ha, sản lượng 79.249 tấn; mía 51.795 ha, sản lượng 3.533.067 tấn; sắn 83.675 ha, sản lượng 1.719.858 tấn; sầu riêng 8.932 ha, sản lượng 50.054 tấn; chuối 9.742 ha, sản lượng 217.960 tấn; chanh dây 5.384,2 ha, sản lượng 90.575 tấn. Các cây trồng này đã tạo nguồn nguyên liệu tương đối ổn định cho chế biến, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. - Liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm từng bước được mở rộng. Trong đó, diện tích liên kết đối với cà phê đạt gần 45.530 ha, hồ tiêu 2.610 ha, điều gần 19.640 ha, cao su trên 78.130 ha, mía trên 48.850 ha, sắn gần 35.270 ha, sầu riêng trên 4.190 ha, chuối trên 4.560 ha và chanh dây trên 4.550 ha. Tỉnh đã chủ động rà soát, kết nối, mời gọi một số doanh nghiệp có năng lực tài chính, có uy tín và định hướng gắn bó lâu dài tham gia đầu tư phát triển các ngành hàng có thế mạnh như cà phê, hồ tiêu, chanh dây, sầu riêng, chuối, góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. - Công tác chuẩn hóa quy trình sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc tiếp tục được quan tâm thực hiện. Một số sản phẩm nông sản của tỉnh đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường, như chanh dây Gia Lai là lô hàng chanh dây đầu tiên của Việt Nam xuất khẩu sang châu Âu theo Hiệp định EVFTA; sản phẩm LOPANG BANANA là sản phẩm chuối Việt Nam đầu tiên được phân phối qua 81 siêu thị tại Hàn Quốc; một số sản phẩm như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng đã và đang tiếp cận các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc. - Công tác cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu được triển khai và đạt một số kết quả tích cực. Đến năm 2025, sầu riêng đã được cấp 67 mã số vùng trồng với diện tích 1.539,14 ha và 06 mã số cơ sở đóng gói; chuối được cấp 38 mã số vùng trồng với diện tích 3.258,36 ha và 27 mã số cơ sở đóng gói; chanh dây được cấp 48 mã số vùng trồng với diện tích 1.153,05 ha và 06 mã số cơ sở đóng gói. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu chính ngạch.
2. Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất trồng trọt Gia Lai giai đoạn 2021 - 2025 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. - Quy mô sản xuất nhìn chung vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán; việc tổ chức xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn về sản lượng, chất lượng và sản xuất theo hợp đồng gắn với thị trường tiêu thụ còn chậm. Khâu liên kết, hợp tác trong sản xuất giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân chưa bền vững; vai trò của các bên tham gia liên kết trong chuỗi giá trị còn hạn chế, nhất là vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, duy trì và phát triển bền vững vùng nguyên liệu. - Chất lượng nông sản giữa các vùng nguyên liệu, vùng sản xuất chưa đồng đều. Tập quán canh tác của một bộ phận người dân vẫn còn dựa vào kinh nghiệm, cảm tính; tình trạng lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và chất kích thích sinh trưởng còn xảy ra, dẫn đến nguy cơ tồn dư hóa chất, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và làm giảm khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường xuất khẩu. - Mặc dù sản lượng một số nông sản hàng hóa của tỉnh khá lớn, tạo lợi thế cạnh tranh và bảo đảm nguồn cung cho chế biến, xuất khẩu, song tỷ lệ sản phẩm được chứng nhận đạt tiêu chuẩn còn thấp. Phần lớn nông sản xuất khẩu vẫn dưới dạng thô hoặc chỉ qua sơ chế cơ bản, chưa qua chế biến sâu, giá trị gia tăng chưa cao. Đối với ngành hàng cà phê, khoảng 60% sản phẩm xuất khẩu vẫn ở dạng cà phê nhân thô; đối với hồ tiêu, chủ yếu vẫn xuất khẩu dưới dạng tiêu đen nguyên hạt. - Đối với một số ngành hàng có thế mạnh như cà phê, chanh dây, sầu riêng, những hạn chế nội tại vẫn còn khá rõ. Cà phê chủ yếu vẫn là sản xuất nông hộ nhỏ lẻ, chất lượng chưa đồng đều, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ còn thiếu tính bền vững; chanh dây còn tiềm ẩn rủi ro lớn về dịch bệnh, chất lượng chưa ổn định, chuỗi liên kết còn yếu; sầu riêng còn tình trạng phát triển tự phát ở một số nơi, chưa tuân thủ đầy đủ quy trình kỹ thuật, khó kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc. - Các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu cao về kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và giới hạn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Trong khi đó, công tác quản lý, kiểm soát chất lượng nông sản xuất khẩu trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn; đây là thách thức lớn đối với sản xuất trồng trọt của tỉnh trong bối cảnh quy mô sản xuất còn manh mún, phân tán, thiếu đồng bộ.
3. Nhận diện vấn đề trọng tâm cần tập trung giải quyết trong giai đoạn tới
Xác định sản xuất trồng trọt là phải chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm là tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, chuyên canh; phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn; đẩy mạnh liên kết chuỗi; tăng cường kiểm soát chất lượng, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc; đồng thời, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. - Thứ nhất, đối với nhóm cây trồng ổn định bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cộng đồng và tăng thu nhập, cần tiếp tục duy trì diện tích hợp lý, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất; đồng thời, gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Đây là nhóm cây trồng giữ vai trò nền tảng trong bảo đảm an ninh lương thực, ổn định đời sống dân cư và phát triển kinh tế nông thôn. - Thứ hai, đối với nhóm cây nguyên liệu ổn định gắn với doanh nghiệp xuất khẩu, chế biến sẵn có như mía, sắn, điều, cao su, chuối, tỉnh đã hình thành được vùng nguyên liệu, doanh nghiệp thu mua, chế biến và thị trường tiêu thụ tương đối rõ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần tiếp tục củng cố vùng nguyên liệu theo hướng tập trung, đạt chuẩn; nâng cao chất lượng, tăng tính bền vững của liên kết hợp đồng và bảo đảm ổn định nguồn nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu. - Thứ ba, đối với nhóm cây nguyên liệu gắn với xây dựng chuỗi OCOP, cần tiếp tục tổ chức lại sản xuất, gắn vùng nguyên liệu với chế biến, truy xuất nguồn gốc, phát triển thương hiệu, bao bì, nhãn hiệu và xúc tiến thương mại. Việc phát triển sản phẩm OCOP cần được thực hiện đồng bộ từ khâu sản xuất nguyên liệu đến tiêu thụ sản phẩm, nhằm nâng cao giá trị gia tăng, khai thác hiệu quả lợi thế sản phẩm đặc trưng của từng địa phương. - Thứ tư, đối với nhóm cây trồng có tiềm năng tăng giá trị thông qua chế biến sâu như cà phê, chanh dây, sầu riêng, đây là nhóm cây có lợi thế nổi trội về điều kiện tự nhiên, quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng mở rộng thị trường. Tuy nhiên, các hạn chế hiện nay chủ yếu tập trung ở quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chất lượng chưa đồng đều, liên kết chuỗi chưa chặt chẽ, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, hạ tầng phục vụ sơ chế, bảo quản, đóng gói và chế biến còn hạn chế. Vì vậy, cần ưu tiên tập trung nguồn lực để phát triển nhóm cây trồng này theo hướng hình thành vùng nguyên liệu đạt chuẩn, gắn với doanh nghiệp đầu chuỗi, cơ sở chế biến sâu và thị trường xuất khẩu. Phầ n II KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN TRỒNG TRỌT GIAI ĐOẠN 2026 - 2030, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2035 I. ĐỊNH HƯỚNG
1. Phát triển trồng trọt theo hướng tuần hoàn, phát thải carbon thấp, thân thiện
với môi trường. Sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.
2. Tổ chức lại sản xuất theo vùng chuyên canh, gắn với chỉ dẫn địa lý, truy xuất
nguồn gốc và xây dựng mã số vùng trồng. Xây dựng, phát triển các vùng nguyên liệu cây trồng hàng hóa đạt chuẩn gắn với chuỗi giá trị và chế biến sâu, xuất khẩu.
3. Tăng tỷ trọng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế, theo hướng hữu cơ
kết hợp ứng dụng công nghệ cao để nâng cao hiệu quả, chất lượng, giá trị gia tăng, thúc đẩy xuất khẩu nông sản hàng hóa của tỉnh.
4. Tiếp tục quản lý chặt chẽ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; tăng cường sử
dụng phân bón hữu cơ, vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, thực hiện chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), đẩy mạnh ứng dụng quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) và ứng dụng công nghệ cao trong dự tính, dự báo sinh vật gây hại cây trồng.
5. Áp dụng cơ giới hóa đồng bộ từ khâu sản xuất đến thu hoạch, bảo quản, chế
biến theo chuỗi giá trị trước hết đối với sản phẩm chủ lực tại các vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn. Phát triển và áp dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất nông sản cả về số lượng, chất lượng và gia tăng giá trị nông sản. II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Mục tiêu chung
Phát triển trồng trọt thành ngành kinh tế kỹ thuật hoàn chỉnh, chuyên nghiệp, sản phẩm có sức cạnh tranh cao, đảm bảo an toàn thực phẩm, gia tăng giá trị xuất khẩu; sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, phòng, chống có hiệu quả thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo việc làm, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống cho nông dân góp phần vào tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh.
2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030
- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất trồng trọt bình quân 2,2 - 2,5%/năm; tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp chế biến sản phẩm trồng trọt bình quân trên 10%/năm. Tổng giá trị sản xuất ước đạt 40.265 tỷ đồng, tăng 6.945 tỷ đồng so với năm 2025. - Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng kém hiệu quả với diện tích khoảng 26.710 ha. Trong đó: đất trồng lúa 3.790 ha, đất trồng mía 7.660 ha, đất trồng sắn 7.745 ha, đất trồng điều 4.020 ha và chuyển đổi trên đất trồng cây trồng khác 3.495 ha. - Xây dựng vùng nguyên liệu gắn với chuỗi liên kết chế biến sâu của các doanh nghiệp: 3 - 5 vùng/3 - 5 doanh nghiệp. Quy mô vùng nguyên liệu có xây dựng liên kết: Cà phê: 81.026 ha/tổng diện tích 110.00 ha (tăng 35.500 ha, hiện có 45.526 ha); Sầu riêng: 8.693 ha/tổng diện tích 10.000 ha (tăng 4.500 ha, hiện có 4.192 ha); Chanh dây 4.956 ha/tổng diện tích 10.000 ha (tăng 500 ha, hiện có 4.455 ha). - Xây dựng 300 - 350 chuỗi, gồm: Chuỗi tạo vùng nguyên liệu tập trung mới; chuỗi tạo vùng nguyên liệu cho các sản phẩm OCOP; chuỗi an toàn nông sản; chuỗi chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ để thực hiện kế hoạch giảm phát thải. - Tỷ lệ diện tích sản xuất thực hành nông nghiệp tốt (GAP) và tương đương 10 - 15%. - Tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu 03 ngành hàng cà phê, sầu riêng, chanh dây tăng 10 - 15%/năm. Trên 50% giá trị xuất khẩu các sản phẩm cây trồng hàng hóa chủ lực của tỉnh (cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, sầu riêng, chanh dây, chuối) qua sơ chế cơ bản, chế biến và chế biến sâu. - Giá trị sản phẩm bình quân trên 01 ha đất trồng trọt đạt 160 - 165 triệu đồng.
3. Định hướng đến năm 2035
- Phấn đấu đến năm 2035, trồng trọt Gia Lai thuộc nhóm đứng đầu khu vực Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước. Các sản phẩm ngành trồng trọt được
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.