Thông tư liên tịch06/2018/TTLT-VKSNDTC-Ban hành: 21/12/2018Còn hiệu lực
Thông tư liên tịch Về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
Mục lục - 13 điều ▼
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Thông tư liên tịch này quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác có liên quan trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình
sự về thủ tục tố tụng đối với người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi.
2. Việc xét xử vụ án có bị cáo, người bị hại là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm
quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên được thực hiện theo hướng dẫn
tại Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi thuộc
thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên.
-- 1 of 14 --
CÔNG BÁO/Số 35 + 36/Ngày 10-01-2019 33
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, người bị hại,
người làm chứng dưới 18 tuổi.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan tham gia hoạt động tố tụng theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 3. Các cụm từ được sử dụng trong Thông tư liên tịch
Trong Thông tư liên tịch này, các cụm từ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi là người từ
đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều
kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự.
Người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi được xác định
theo thứ tự sau đây:
a) Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi;
b) Người giám hộ;
c) Người do Tòa án chỉ định.
2. Người giám hộ của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi là người
giám hộ đương nhiên hoặc người được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18
tuổi cư trú cử hoặc Tòa án chỉ định theo quy định tại các điều 46, 47, 48, 52 và 54
Mục 4 Chương III Bộ luật Dân sự.
3. Lý do bất khả kháng là những việc, tình huống, sự kiện xảy ra một cách
khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã
áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
4. Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động
làm cho người có quyền, nghĩa vụ không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp
của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ của mình.
Điều 4. Trách nhiệm phối hợp của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác có liên quan
1. Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có người
bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá
-- 2 of 14 --
34 CÔNG BÁO/Số 35 + 36/Ngày 10-01-2019
nhân khác có liên quan có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, bảo đảm thực hiện đúng
quy định tại Chương XXVIII và các quy định khác của Bộ luật Tố tụng hình sự về
thủ tục tố tụng thân thiện đối với người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp những thông tin cần thiết về quá trình
tố tụng, về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ cho người tham gia tố tụng là người
dưới 18 tuổi và người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ, đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia tố tụng, bảo vệ lợi ích tốt
nhất cho người dưới 18 tuổi.
3. Người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi; đại diện của nhà trường, Đoàn thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan phải có
mặt và tham gia đầy đủ các hoạt động tố tụng theo quyết định hoặc yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 5. Phân công người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
1. Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán khi được phân
công tiến hành tố tụng đối với vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi
phải có ít nhất một trong các điều kiện sau đây:
a) Có kinh nghiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến
người dưới 18 tuổi;
b) Đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình
sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi;
c) Đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối
với người dưới 18 tuổi.
2. Hội thẩm tham gia Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án có người tham gia tố tụng
là người dưới 18 tuổi phải có người là giáo viên, cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi.
Người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi là người có thâm
niên công tác trong lĩnh vực tư pháp, quản lý, đào tạo, bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục người dưới 18 tuổi; người được đào tạo về giáo dục thanh, thiếu niên, nhi đồng
hoặc những người khác có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi.
-- 3 of 14 --
CÔNG BÁO/Số 35 + 36/Ngày 10-01-2019 35
Điều 6. Phối hợp trong việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị
hại dưới 18 tuổi
1. Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ
vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:
a) Giấy chứng sinh;
b) Giấy khai sinh;
c) Chứng minh nhân dân;
d) Thẻ căn cước công dân;
đ) Sổ hộ khẩu;
e) Hộ chiếu.
2. Trường hợp các giấy tờ, tài liệu nêu tại khoản 1 Điều này có mâu thuẫn,
không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình,
người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao
động, sinh hoạt trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm
các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó.
Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được
khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh thì tùy
từng trường hợp cụ thể cần căn cứ khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự để
xác định tuổi của họ.
3. Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của
người bị buộc tội, người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác
định được để xác định tuổi của họ.
Ví dụ: Kết luận giám định A có độ tuổi trong khoảng từ 13 tuổi 6 tháng đến 14
tuổi 2 tháng thì xác định tuổi của A là 13 tuổi 6 tháng.
Điều 7. Thông báo về hoạt động tố tụng
1. Trước khi lấy lời khai, hỏi cung người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi,
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải
thông báo trước trong thời gian hợp lý cho người đại diện, người bào chữa, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ biết về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung
để những người này tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
-- 4 of 14 --
36 CÔNG BÁO/Số 35 + 36/Ngày 10-01-2019
Việc thông báo cho gia đình của người dưới 18 tuổi bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp được thực hiện theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Tố tụng hình sự; việc
thông báo cho người đại diện của người dưới 18 tuổi trong trường hợp họ bị bắt,
tạm giữ, tạm giam được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 419 Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Việc thông báo các hoạt động tố tụng khác được thực hiện theo quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Việc thông báo phải bằng văn bản, trong đó phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, điện
thoại liên lạc của người ra thông báo và người được thông báo. Trường hợp cần
bảo đảm sự có mặt kịp thời của người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
thể thông báo trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay
sau đó phải gửi thông báo bằng văn bản.
3. Người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi khi nhận được thông báo phải
thông tin kịp thời về việc có mặt và tham gia tố tụng của họ cho cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng biết.
Điều 8. Phối hợp trong việc cử người để tham gia tố tụng
1. Khi tiến hành các hoạt động tố tụng đối với người tham gia tố tụng là người
dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức sau đây cử người giám hộ,
người đại diện, người thực hiện trợ giúp pháp lý, người bào chữa, Bào chữa viên
nhân dân để tham gia tố tụng:
a) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người tham gia tố tụng là người dưới
18 tuổi cư trú cử người giám hộ nếu họ không có người giám hộ đương nhiên;
b) Yêu cầu Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Bảo vệ quyền trẻ em, cơ quan,
tổ chức có liên quan nơi bắt giữ, nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi có thẩm quyền điều
tra cử người đại diện cho người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi trong
trường hợp họ không có nơi cư trú rõ ràng, không xác định được lý lịch hoặc có
người đại diện nhưng họ cố ý vắng mặt hoặc từ chối tham gia tố tụng;
c) Yêu cầu Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử người thực hiện trợ giúp pháp
lý cho người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi nếu họ là người được trợ
-- 5 of 14 --
CÔNG BÁO/Số 35 + 36/Ngày 10-01-2019 37
giúp pháp lý theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và Thông tư
liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018
quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng;
d) Yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử
người bào chữa; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức là thành viên
của Mặt trận cử Bào chữa viên nhân dân cho người bị buộc tội là người dưới 18
tuổi theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Việc yêu cầu hoặc đề nghị phải bằng văn bản theo quy định tại khoản 2
Điều 9. Bảo đảm việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường,
Đoàn thanh niên, cơ quan, tổ chức khác
1. Sau khi nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
đang thụ lý giải quyết vụ án, vụ việc có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi về
việc có mặt và tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người dưới
18 tuổi thì người đại diện, thầy giáo, cô giáo, đại diện của nhà trường, Đoàn thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cơ quan, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập,
lao động và sinh hoạt của họ phải có văn bản trả lời cho cơ quan có thẩm quyền tố
tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về họ tên, thông tin, địa chỉ liên lạc
của người được cử để tham gia tố tụng; trường hợp cần thiết có thể báo tin trực
tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi
bằng văn bản.
2. Người đại diện, thầy giáo, cô giáo, đại diện của nhà trường, Đoàn thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, cơ quan, tổ chức khác phải có mặt đúng thời gian, địa
điểm nêu trong thông báo. Trường hợp vắng mặt có lý do chính đáng hoặc do trở
ngại khách quan thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có thể hoãn việc thực hiện hoạt động tố tụng hoặc yêu cầu
đại diện của nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cơ quan, tổ chức
khác cử ngay người khác tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
người dưới 18 tuổi.
-- 6 of 14 --
38 CÔNG BÁO/Số 35 + 36/Ngày 10-01-2019
Điều 10. Bảo đảm việc tham gia tố tụng của người bào chữa, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp
1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng phải thông báo cho người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi, người đại
diện hoặc người thân thích của họ về việc mời người bào chữa, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ khi tham gia
tố tụng; trường hợp những người này không mời thì tùy từng trường hợp cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết
như sau:
a) Chỉ định người bào chữa nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 76 Bộ luật
Tố tụng hình sự;
b) Yêu cầu Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước cử người thực hiện trợ giúp
pháp lý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 của Thông tư này; yêu cầu cơ
quan, tổ chức có người bị hại là thành viên cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho họ.
2. Người bào chữa cho người bị buộc tội dưới 18 tuổi phải tham gia trong các
giai đoạn tố tụng của vụ án, trừ các trường hợp sau:
a) Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ từ chối hoặc
đề nghị thay đổi người bào chữa;
b) Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa
theo quy định tại khoản 7 Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự;
c) Người bào chữa có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không thể
bào chữa.
3. Trường hợp đã thay đổi người bào chữa được chỉ định mà người bị buộc tội,
người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn từ chối người bào chữa quy định
tại điểm a khoản 2 Điều này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối, đưa vào hồ sơ vụ án và
chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.
Trường hợp hủy bỏ việc đăng ký bào chữa quy định tại điểm b khoản 2 Điều
này, thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử
người bào chữa hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử người thực hiện trợ
-- 7 of 14 --
CÔNG BÁO/Số 35 + 36/Ngày 10-01-2019 39
giúp pháp lý hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên
của Mặt trận cử Bào chữa viên nhân dân khác cho người bị buộc tội.
Trường hợp người bào chữa không thể tham gia các hoạt động tố tụng quy
định tại điểm c khoản 2 Điều này, thì tùy từng trường hợp cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định
tại các điều 251, 291, 421, các điều luật khác có liên quan của Bộ luật Tố tụng hình
sự hoặc yêu cầu, đề nghị các tổ chức có liên quan cử người bào chữa, người thực
hiện trợ giúp pháp lý hoặc Bào chữa viên nhân dân khác cho người bị buộc tội.
4. Ngoài sự tham gia của người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng có thể đề nghị Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp
Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Bảo vệ quyền trẻ em, Trung
tâm trợ giúp pháp lý, cơ quan, tổ chức khác nơi tiến hành tố tụng cử người tham
gia tố tụng để hỗ trợ, bảo vệ cho người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi không
có gia đình, không có nơi cư trú ổn định, người bị hại dưới 18 tuổi bị xâm hại tình
dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán khi có đề nghị của người bị buộc tội, người bị
hại, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ hoặc khi Cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét
thấy cần thiết.
Điều 11. Phối hợp thực hiện việc giám sát đối với người bị buộc tội dưới
18 tuổi
1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể ra quyết định giao người bị
buộc tội dưới 18 tuổi không bị áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam cho người
đại diện của họ giám sát theo quy định tại Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quyết định giao người bị buộc tội dưới 18 tuổi để giám sát phải được gửi ngay
cho người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát.
2. Người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát có trách nhiệm phối hợp chặt
chẽ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức khác có liên
quan trong việc giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi; nếu phát hiện người bị
buộc tội dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có các hành vi khác quy định tại
khoản 2 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự thì phải kịp thời ngăn chặn và thông báo
ngay bằng điện thoại hoặc hình thức khác nhanh nhất cho cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng để phối hợp xử lý.
-- 8 of 14 --
40 CÔNG BÁO/Số 35 + 36/Ngày 10-01-2019
Trường hợp người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát vi phạm nghĩa vụ
giám sát mà để người bị buộc tội dưới 18 tuổi bỏ trốn hoặc thực hiện các hành vi
khác quy định tại khoản 2 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự thì tùy tính chất, mức
độ vi phạm có thể bị thay đổi hoặc bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 12. Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải
1. Trước khi quyết định áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, cân nhắc áp dụng
biện pháp giám sát, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn xuất cảnh quy định tại
Điều 123. , Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp sau khi quyết định tạm giam bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi
mà có đủ căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm thì cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần thay thế ngay biện pháp tạm giam bằng biện
pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm.
2. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo quy định tại khoản 1 Điều 419
Bộ luật Tố tụng hình sự trong trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
đã được áp dụng biện pháp giám sát, biện pháp ngăn chặn khác quy định tại khoản 1
Điều này nhưng bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, có dấu hiệu bỏ trốn, tiếp
tục phạm tội, có dấu hiệu tiếp tục phạm tội hoặc có các hành vi khác quy định tại
khoản 2 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự.
3. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng phải thường xuyên theo dõi, rà soát, kiểm tra việc tạm giữ, tạm giam đối với
người dưới 18 tuổi bị tạm giữ, tạm giam; nếu phát hiện không còn căn cứ hoặc
không cần thiết tạm giữ, tạm giam thì phải kịp thời ra quyết định hủy bỏ, thay thế
bằng biện pháp ngăn chặn khác.
4. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải đối với người dưới 18 tuổi trong các trường
hợp sau đây:
a) Bị can, bị cáo đã có giấy triệu tập đến lần thứ hai nhưng cố ý vắng mặt mà
không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
b) Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị can, bị cáo đang bị tạm giam từ
nơi bị giam, giữ đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án.
-- 9 of 14 --
CÔNG BÁO/Số 35 + 36/Ngày 10-01-2019 41
Điều
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.