CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđịnh hoãn phiên toà số: 117/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 giữa
2
không hợp nhau, thường xuyên cự cãi dẫn đến tình cảm rạn nứt. Chị đã dọn ra
riêng không còn tiếp tục chung sống với anh R từ khoảng năm 2020 cho đến nay.
Do nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án không
công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh R.
Về con chung: Tại Đơn khởi kiện chị xác định giữa chị và anh R có 02 con
chung là Nguyễn Nhật H, sinh ngày 13/01/2011 và Nguyễn Ngọc Quỳnh N1, sinh
ngày 21/3/2015; hiện tại cả 02 cháu đều do chị trực tiếp chăm sóc và chị yêu cầu
được tiếp tục nuôi 02 con sau khi ly hôn; không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi
con. Tuy nhiên do nhận thấy không đủ chứng cứ chứng minh 02 cháu là con chung
của chị và anh R trong thời gian chung sống như vợ chồng; nên chị thay đổi yêu
cầu khởi kiện, không yêu cầu xem xét giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Anh Nguyễn Xem R là bị đơn: Không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình
đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để Tòa án xem
xét.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án; ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết
vụ án, xem xét việc thụ lý vụ án, tống đạt thông báo các văn bản tố tụng và tiến
hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng
không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 72 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 14, 15, 53 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị
Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Xem R về việc không công nhận chị N và anh
R là vợ chồng. Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.