Số: 309/Q
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcQUYẾT ĐỊNH
Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 __________ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Chính phủ
về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
và dự toán ngân sách nhà nước năm 2024;
Theo đề nghị của Bộ Công Thương tại Tờ trình số 2336/TTr-BCT ngày 03
tháng 4 năm 2025, Công văn số 7697/BCT-CLCS ngày 06 tháng 10 năm 2025,
Công văn số 9599/BCT-CLCS ngày 03 tháng 12 năm 2025 và Công văn số
795/BCT-CLCT ngày 05 tháng 02 năm 2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045 (gọi tắt là Chiến lược) với các nội dung sau: I. QUAN ĐIỂM
1. Phát triển ngành sữa gắn với sự phát triển chung của các ngành kinh tế
và đóng góp ngày càng cao trong cơ cấu ngành công nghiệp, đảm bảo phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, định hướng phát triển kinh tế - xã hội, an ninh dinh dưỡng quốc gia, an toàn thực phẩm, nâng cao thể chất; phù hợp với các chiến lược, quy hoạch tổng thể quốc gia, ngành quốc gia, vùng và địa phương.
2. Phát triển ngành sữa dựa trên lợi thế đất nước có nền nông nghiệp phát
triển, gắn với mục tiêu chuyển đổi số nông nghiệp, nông thôn, khai thác tối đa nguồn nguyên liệu trong nước trên cơ sở đẩy mạnh phát triển ngành chăn nuôi bò sữa, nâng cao tỷ lệ sản phẩm nội địa, giảm dần sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, nâng cao chuỗi giá trị ngành sữa, gắn kết chặt chẽ với sự phát triển chung của các ngành kinh tế và đóng góp ngày càng cao trong cơ cấu chung của ngành công nghiệp.
3. Phát triển ngành sữa dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,
áp dụng mô hình quản trị hiện đại, công nghệ tiên tiến, kiểm soát chất lượng, hạn chế tác động đến môi trường với mô hình kinh tế xanh, tuần hoàn, đảm bảo sự phát triển bền vững. Phát huy tối đa tiềm năng của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, không ngừng nâng cao năng lực sản xuất kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm để tạo ra nhiều sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao, chất lượng tốt, an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu về sữa và sản phẩm chế biến sữa cho thị trường trong nước và quốc tế. II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam phát triển bền vững với chuỗi giá trị ngành sữa hoàn chỉnh từ khâu phát triển đàn bò sữa, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu đến chế biến thành phẩm giá trị gia tăng cao. Ngành sữa đáp ứng cơ bản nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và tham gia ngày càng sâu trong chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sữa khu vực và toàn cầu.
2. Mục tiêu cụ thể
Giai đoạn đến năm 2030: - Tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm khoảng 12,0% - 14,0%/năm. - Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 4.200 triệu lít/năm. - Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 2.600 triệu lít/năm. - Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 60% - 65% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước. - Sữa bột tăng trưởng khoảng 7,0% - 8,0% năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 245 nghìn tấn/năm. - Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 40 lít/người/năm. Giai đoạn đến năm 2035: - Tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm khoảng 10,0% - 12,0%/năm. - Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 6.200 triệu lít/năm. - Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 4.500 triệu lít/năm. - Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 70% - 75% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước. - Sữa bột tăng trưởng khoảng 5,0% - 6,0% năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 310 nghìn tấn/năm. - Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 60 lít/người/năm. Tầm nhìn đến năm 2045: - Tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm từ 5,0% - 6,0%/năm. - Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 9.700 triệu lít/năm. - Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 8.000 triệu lít/năm. - Sữa bột tăng trưởng khoảng 3,0% - 4,0% năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 415 nghìn tấn/năm. - Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 100 lít/người/năm. - Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 80% - 85% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước. III. ĐỊNH HƯỚNG
1. Định hướng phát triển
- Xây dựng chuỗi chăn nuôi bò sữa đảm bảo an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Từng bước nâng cao số lượng bò sữa trong nước nhằm tận dụng tối đa lợi thế đất nước nông nghiệp, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu chế biến trong nước nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nhập khẩu sản phẩm sữa và nguyên liệu chế biến sữa. Phát triển đàn bò sữa theo hướng trang trại bò sữa tập trung kết hợp với chăn nuôi hợp tác xã, nông hộ, gắn với mục tiêu hiện đại hóa khu vực nông nghiệp nông thôn. - Đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm sữa đi đôi với nâng cao chất lượng, hình thức, mẫu mã và bao bì sản phẩm. Khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, blockchain, AI trong quản lý đàn bò, truy xuất nguồn gốc, phân phối sữa nhằm nâng cao tỷ trọng sản phẩm sữa có giá trị gia tăng cao, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, từ đó hình thành các sản phẩm chủ lực có tính đột phá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. - Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu thị trường kết hợp với nghiên cứu sản xuất chế phẩm, phụ gia, hương liệu phục vụ ngành sữa hướng đến việc phát triển các sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu tiêu dùng và theo kịp xu hướng tiêu dùng sữa và sản phẩm chế biến sữa trên thế giới. - Đẩy mạnh phát triển các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao; sữa và chế phẩm từ sữa, sữa công thức dành cho các đối tượng theo vòng đời như trẻ em, người cao tuổi, sữa dành cho người có nhu cầu chuyên biệt; đối với sữa học đường chỉ sử dụng nguồn sữa tươi, đảm bảo tiếp cận sữa tươi cho các vùng khó khăn, trẻ em nghèo, học sinh dân tộc thiểu số. - Thúc đẩy khoa học, đổi mới sáng tạo, đầu tư ứng dụng các dây chuyền sản xuất tự động hóa thế hệ mới có mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu thấp, hiệu suất cao, thân thiện với môi trường. Đồng thời ưu tiên thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị, bao gồm: phát triển giống bò sữa năng suất cao, chất lượng sữa tốt phù hợp với thổ nhưỡng các vùng miền đất nước nhằm tăng nhanh sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công nghệ chế biến, bảo quản, phân phối sản phẩm.
2. Định hướng phát triển doanh nghiệp
- Tiếp tục mở rộng quy mô đàn bò sữa, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công suất chế biến thông qua việc nâng cấp các dự án hiện có, ứng dụng công nghệ hiện đại, thiết bị dây chuyền tự động hóa ở mức cao, ưu tiên đầu tư phát triển các dự án hoàn chỉnh theo chuỗi giá trị từ chăn nuôi bò lấy sữa đến các sản phẩm sữa chế biến, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong toàn bộ quy trình sản xuất và phân phối sản phẩm. - Tái cơ cấu tổ chức, đổi mới mô hình quản trị, hướng tới hình thành các tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo vị thế xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới, từng bước khẳng định vai trò và vị thế của ngành sữa Việt Nam trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng sữa toàn cầu. - Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp sản xuất sữa tươi nguyên liệu theo hướng bền vững với quy mô hợp lý, chất lượng giống đàn bò được cải thiện, dần chủ động được giống bò sữa trong nước cho năng suất sữa cao. Từng bước ổn định và gia tăng nguồn cung nguyên liệu sữa phục vụ chế biến. Đồng thời phát triển mối liên kết chặt chẽ, hài hòa giữa doanh nghiệp, người chăn nuôi sản xuất sữa nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến theo các mô hình liên kết tiên tiến, cùng phát triển nhằm ổn định thị trường, nâng cao năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm, thương hiệu sữa Việt Nam.
3. Định hướng thị trường
a) Đối với thị trường trong nước: - Đẩy mạnh đổi mới phương thức tiếp cận thị trường, truyền thông nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về giá trị của sữa theo hướng ứng dụng công nghệ số, tiếp thị trực tuyến trên nền tảng Internet và mạng xã hội nhằm phát huy tối đa hiệu quả các kênh phân phối, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng. - Từng bước nâng cao tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm sữa trong nước thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã và cơ cấu lại hệ thống phân phối theo hướng thông minh, hiện đại, thuận tiện, hiệu quả. Song hành với phát triển thị trường sản phẩm cần có các chính sách chống gian lận thương mại, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử. b) Đối với thị trường xuất khẩu: - Thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tăng cường công tác nghiên cứu, tìm kiếm và phát triển thị trường mới. Đẩy mạnh công tác đàm phán kỹ thuật thú y, mở rộng thị trường nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tập trung khai thác hiệu quả các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các cam kết quốc tế khác, đồng thời chủ động tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường. - Đẩy mạnh hoạt động xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm sữa Việt Nam, phát triển chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm sữa chế biến. Hỗ trợ doanh nghiệp ngành sữa trong các vấn đề pháp lý, giải quyết tranh chấp thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình tham gia vào thị trường quốc tế. c) Đối với thị trường nhập khẩu: Nghiên cứu tiếp cận nhập khẩu công nghệ sản xuất, chế biến tiên tiến nhằm đẩy nhanh tiến trình phát triển ngành sữa trong nước. Đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tìm kiếm, lựa chọn và khai thác các thị trường uy tín, đảm bảo ổn định nguồn cung chất lượng với giá thành cạnh tranh, nhập khẩu sản phẩm sữa trong nước còn thiếu, chưa chế biến được phù hợp với thị hiếu người Việt. Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất, chế biến sữa ở các nước có điều kiện phát triển, để cân đối những phần sữa còn thiếu hụt cho thị trường trong nước.
4. Định hướng về đảm bảo an toàn thực phẩm đối với sản phẩm sữa
- Rà soát các tiêu chuẩn (TCVN), quy chuẩn (QCVN), bổ sung, cập nhật theo nguyên tắc đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc tế như: Codex, ISO, HACCP, OAOC và các tiêu chuẩn sản phẩm đối với thị trường đặc thù (Halal). Các sản phẩm sữa phải đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm có liên quan. - Xây dựng các trung tâm kiểm nghiệm an toàn thực phẩm khu vực theo tiêu chuẩn quốc tế. Bố trí kinh phí cho các hoạt động kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất về an toàn thực phẩm trong các sản phẩm sữa, từ sữa nguyên liệu đến sữa chế biến. Tuyên truyền, huấn luyện, đào tạo nhân lực làm công tác kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm. IV. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Về cơ chế, chính sách
- Rà soát hoàn thiện cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật liên quan đến toàn bộ chuỗi giá trị ngành sữa bao gồm: chính sách về việc xây dựng các vùng/cơ sở chăn nuôi bò sữa an toàn dịch bệnh, sản xuất sữa tươi nguyên liệu, chế biến, nhập khẩu, cung ứng và tiêu dùng sản phẩm; cơ chế, chính sách để hỗ trợ xây dựng và triển khai thực hiện chương trình giám sát quốc gia về an toàn thực phẩm đối với sữa và sản phẩm sữa, bảo đảm đồng bộ, thống nhất và hài hòa với các cam kết quy chuẩn quốc tế. - Có chính sách dành quỹ đất, chuyển đổi diện tích đất hiệu quả thấp, đất nông lâm trường sang thâm canh trồng cỏ để phát triển chăn nuôi đàn bò sữa. Ưu tiên giao đất, thuê đất với chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật về đất đai cho các dự án trang trại tập trung, công nghiệp, các vùng chăn nuôi bò sữa nông hộ đủ điều kiện phát triển chăn nuôi, sản xuất chế biến sản phẩm sữa. - Các ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân vay vốn theo chính sách ưu đãi của nhà nước để đầu tư con giống, cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ đối với các dự án sản xuất quy mô lớn, hiện đại trong và ngoài nước, nhằm khuyến khích đầu tư chăn nuôi tăng nhanh sản xuất sữa nguyên liệu, nghiên cứu khoa học, chuyển giao và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất - chế biến sữa; khuyến khích mô hình khuyến nông, khuyến công, phát triển các hợp tác xã chăn nuôi, chế biến sữa phù hợp với các phân khúc thị trường; đảm bảo cân đối hài hòa lợi ích giữa nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng. - Nghiên cứu, xây dựng và ban hành các quy định truy xuất nguồn gốc bằng mã số định danh điện tử trên toàn bộ chuỗi sản xuất sữa từ nguyên liệu đầu vào đến thành phẩm nhằm đảm bảo chất lượng sữa, an toàn thực phẩm, chống gian lận thương mại, bảo đảm tính công khai, minh bạch, trung thực, góp phần xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy phát triển ngành sữa và bảo vệ quyền lợi sức khỏe người tiêu dùng. - Triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm sữa trên cơ sở sửa đổi bổ sung Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và thể chế hóa Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Thúc đẩy hình thành các liên kết theo chuỗi giá trị bền vững giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp và doanh nghiệp - nông dân, doanh nghiệp - doanh nghiệp và giữa các tổ chức sản xuất - chế biến - phân phối. Xây dựng cơ chế điều phối liên ngành giữa các bộ, ngành trong quản lý ngành sữa bảo đảm hiệu lực, hiệu quả. - Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm, tăng cường quản lý nhà nước đối với việc ghi nhãn, tên gọi sản phẩm theo hướng phân biệt rõ tránh gây nhầm lẫn giữa các sản phẩm sữa. Sản phẩm sữa phải được mã hóa theo công nghệ Blockchain, kết hợp với tăng cường kiểm tra, giám sát các công đoạn trong quá trình sản xuất. Sản phẩm sữa bổ sung các vi chất có tính năng riêng biệt cần phải thử nghiệm lâm sàng, được cơ quan thẩm quyền phê duyệt trước khi thương mại hóa. - Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành sữa, cơ sở sản xuất, chế biến phải có phòng thí nghiệm được trang bị các thiết bị đo lường, kiểm nghiệm đồng bộ để đảm bảo phân tích nguyên liệu đầu vào, các thành phẩm. Kết quả phân tích, kiểm nghiệm trong sản xuất, chế biến sản phẩm sữa phải được lưu trữ tại doanh nghiệp, đồng thời truyền dữ liệu về trung tâm của các cơ quan có thẩm quyền để quản lý chất lượng sản phẩm theo thời gian thực và truy xuất nguồn gốc khi có sự cố về an toàn thực phẩm. - Đa dạng hóa các chương trình truyền thông nhằm từng bước thay đổi nhận thức và thói quen trong sử dụng sản phẩm sữa. Đẩy mạnh thực thi các quy định về bảo vệ môi trường trong chuỗi giá trị ngành sữa, kiểm soát nghiêm các cơ sở vi phạm, xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Về thị trường
a) Thị trường trong nước - Tăng cường đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo thị trường và xúc tiến thương mại để có dữ liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời về thị trường; từ đó, hỗ trợ cho doanh nghiệp trong ngành nắm bắt được đầy đủ thông tin thị trường phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. - Khuyến khích doanh nghiệp ngành sữa xây dựng mạng lưới phân phối; tham gia hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế để các doanh nghiệp có nhiều cơ hội giới thiệu, quảng bá sản phẩm cũng như hiểu rõ xu thế tiêu dùng của thị trường, đặc biệt là các thị trường mới; hỗ trợ một số hoạt động trong công tác mở rộng thị trường phân phối sản phẩm trên các địa bàn thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa và hải đảo. - Tăng cường cơ chế kiểm soát chất lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường trong nước để chống hàng lậu, hàng kém chất lượng; quản lý về nội dung ghi nhãn mác, quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm sữa (nhất là sữa công thức cho trẻ em) tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong ngành, bảo đảm đúng pháp luật và đúng theo chuẩn quốc tế (WHO Code). - Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” một cách hiệu quả để sản phẩm của ngành sữa có được thị trường nội địa bền vững. Theo đó, xây dựng hình ảnh sản phẩm sữa trong nước với các tính năng ưu việt như chất lượng cao, an toàn thực phẩm, giá cả cạnh tranh, phù hợp với điều kiện tiêu dùng, đặc biệt chú trọng sữa cho chương trình bữa ăn học đường có sữa tươi để phát triển thể chất người Việt. b) Xuất khẩu sữa - Tập trung nâng cao năng lực tiếp cận và mở rộng thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào phục vụ sản xuất chế biến, thị trường đầu ra sản phẩm ngành sữa, trong đó đặc biệt chú ý tới các thị trường mới, giàu tiềm năng. - Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại và tổ chức các kênh phân phối đa dạng kết hợp với thiết lập các chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài; khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm đối tác thương mại thông qua các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, các đoàn công tác của Chính phủ. - Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường xuất khẩu, đặc biệt chú trọng tới nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của các thị trường tiềm năng lớn tạo cơ sở cho việc phát huy các lợi thế so sánh của ngành để làm ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của các thị trường. Đối với các sản phẩm xuất khẩu vào các thị trường có yêu cầu về chất lượng khác với quy chuẩn Việt Nam thì phải thể hiện rõ sản phẩm được dành cho thị trường đó. - Thiết lập hệ thống thông tin thị trường trong khu vực và toàn cầu, thông qua văn phòng đại diện Thương mại Việt Nam để có thể dự báo, cập nhật thường xuyên và nhanh chóng nhu cầu thị trường về sữa ở trong khu vực và trên thế giới. c) Nhập khẩu Kiểm soát chặt chẽ sữa, các loại nguyên liệu nhập khẩu phục vụ chế biến sữa thông qua việc ban hành các quy chuẩn, quy định về chất lượng, trong đó cần quy định thời hạn sử dụng nhất định mới đủ điều kiện được nhập khẩu vào thị trường Việt Nam. Các loại nguyên liệu, phụ gia phải được kiểm soát chặt chẽ trong quá trình sản xuất sản phẩm sữa dưới hình thức truy vết sử dụng.
3. Về doanh nghiệp ngành sữa
- Nhà nước tập trung hỗ trợ và tạo điều kiện về cơ chế, chính sách để hình thành từ 3 đến 5 doanh nghiệp sữa hàng đầu có khả năng cạnh tranh quốc tế theo định hướng Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. - Các doanh nghiệp chủ động xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp, trong đó chú trọng đến chiến lược phát triển sản phẩm, ưu tiên phát triển sản phẩm mới cho từng thị trường, đặc biệt là thị trường có sức tiêu thụ lớn nhằm đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp cũng như các điều kiện cam kết quốc tế. - Phát triển các dự án tổ hợp trang trại bò sữa tập trung hỗn hợp chăn nuôi nông hộ theo mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trên nền tảng khép kín chuỗi giá trị ngành sữa. Hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm sữa và khoa học công nghệ chăn nuôi nhằm tạo sinh kế cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội khu vực nông nghiệp nông thôn. - Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cam kết trong hiệp định thương mại để tận dụng tối đa ưu thế của thị trường nhất là những thị trường mới; chú trọng xây dựng và phát triển rộng khắp hệ thống đại lý và tiêu thụ sản phẩm, phát huy vai trò của các chi nhánh nhằm tăng tính chủ động trong phân phối, kinh doanh sản phẩm. - Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.