Mục lục - 3 điều ▼
Điều 28. ; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Tú S đã được tống đạt
các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt
không có lý do chính đáng trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa,
chị Nguyễn Thị Tú S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không
có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt chị Nguyễn Thị Tú S.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tú S của anh Trần
Thanh N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Anh Trần Thanh N cho rằng, anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S
tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng
chung sống đến khoảng tháng 11/2022 thì phát sinh mâu thuẫn do chị Nguyễn
Thị Tú S có tình cảm với người đàn ông khác nên vợ chồng sống ly thân cho
đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động
viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S;
bản thân anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S không có thiện chí để hàn
gắn tình cảm vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn nên anh Trần Thanh N
yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tú S.
Chị Nguyễn Thị Tú S vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Xét thấy, anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S kết hôn trên cơ sở tự
-- 3 of 6 --
4
nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia
đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chị
Nguyễn Thị Tú S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của
pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của anh
Trần Thanh N theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã
tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh Trần Thanh N và chị
Nguyễn Thị Tú S theo quy định của pháp luật nhưng chị Nguyễn Thị Tú S vắng
mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện chị
Nguyễn Thị Tú S không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa anh Trần
Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S nên lời trình bày của anh Trần Thanh N về
nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa anh Trần Thanh N
và chị Nguyễn Thị Tú S đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận.
Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa anh Trần Thanh N và chị Nguyễn
Thị Tú S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được,
đời sống chung không thể kéo dài, việc anh Trần Thanh N yêu cầu ly hôn chị
Nguyễn Thị Tú S phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên
được chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu của anh Trần Thanh N về việc để chị Nguyễn Thị Tú S
được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung khi vợ chồng ly hôn, Hội
đồng xét xử nhận thấy:
Anh Trần Thanh N xác định anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S
có 01 con chung tên Trần Nguyễn N1, sinh ngày 04/10/2018; hiện nay, con
chung đang sống với chị Nguyễn Thị Tú S. Khi ly hôn, anh Trần Thanh N đồng
ý để chị Nguyễn Thị Tú S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên
Trần Nguyễn N1.
Chị Nguyễn Thị Tú S vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm
sóc, nuôi dưỡng khi anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S ly hôn phải đảm
bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời
trình bày của anh Trần Thanh N, con chung hiện nay đang sống với chị Nguyễn
Thị Tú S; quá trình sinh sống với chị Nguyễn Thị Tú S, con chung vẫn phát triển
tốt. Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Trần Nguyễn N1 nhưng do
cháu Trần Nguyễn N1 vắng mặt tại nơi cư trú nên không ghi nhận được ý kiến.
Để ổn định cuộc sống cho cháu Trần Nguyễn N1, giúp cháu Trần Nguyễn N1
phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc anh
Trần Thanh N đồng ý để chị Nguyễn Thị Tú S được tiếp tục chăm sóc, nuôi
dưỡng con chung khi anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S ly hôn phù hợp
quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tú S là người trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị
-- 4 of 6 --
5
Tú S ly hôn nên anh Trần Thanh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung
theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Nguyễn
Thị Tú S vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến.
Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh
chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[2.4] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có
tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo:
Anh Trần Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại
khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2025; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271
và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 28. , 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được
sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Điều 51. , 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được
sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh N.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh N được ly hôn chị Nguyễn Thị
Tú S.
[2] Về con chung:
Chị Nguyễn Thị Tú S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên
Trần Nguyễn N1, sinh ngày 04/10/2018. Hiện nay, con chung đang sống với chị
Nguyễn Thị Tú S.
Anh Trần Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Nguyễn Thị Tú S cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được
cản trở anh Trần Thanh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân,
cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm
-- 5 of 6 --
6
2014 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án có thể quyết định thay đổi
người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do
pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Thanh N phải chịu 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0012945 ngày
30/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết
theo quy định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại