Mục lục - 4 điều ▼
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 4 như sau:
“6. Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội tại địa
phương; Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố, Ủy ban bầu cử ở xã, phường, đặc khu tổ
chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
xã tương ứng; các Ban bầu cử, Tổ bầu cử thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc
hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 và khoản 4 Điều 8 như sau:
“3. Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường
vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Ban thường vụ trung ương Hội liên hiệp
phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong
danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.
4. Dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu
ứng cử đại biểu Quốc hội của Ủy ban thường vụ Quốc hội được gửi đến Hội
đồng bầu cử quốc gia, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.”.
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:
“Điều 9. Dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới
thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Căn cứ vào số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở mỗi đơn vị hành
chính theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương, sau khi thống nhất
-- 1 of 14 --
84 CÔNG BÁO/Số 951 + 952/Ngày 21-7-2025
ý kiến với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban nhân dân
cùng cấp, chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử:
1. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh) dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước
ở cấp mình và các đơn vị hành chính cấp dưới, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế
trên địa bàn được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, trong
đó bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính
thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là phụ nữ; số lượng người
ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân
tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương;
2. Thường trực Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là
cấp xã) dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà
nước ở cấp mình và thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là
thôn), tổ dân phố, khu phố, khóm (sau đây gọi chung là tổ dân phố), đơn vị sự
nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp xã, trong đó bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người
trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là phụ
nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với
đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương;
3. Dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng
cử đại biểu Hội đồng nhân dân của Thường trực Hội đồng nhân dân ở mỗi cấp
được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh,
Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban bầu cử cùng cấp.”.
4.Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 10 như sau:
“2. Tỉnh, thành phố được chia thành các đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội.
Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội
được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử được tính căn cứ theo số dân, do Hội đồng bầu cử
quốc gia ấn định theo đề nghị của Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố và được công
bố chậm nhất là 80 ngày trước ngày bầu cử.
-- 2 of 14 --
CÔNG BÁO/Số 951 + 952/Ngày 21-7-2025 85
3. Tỉnh, thành phố được chia thành các đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh. Xã, phường, đặc khu được chia thành các đơn vị bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp xã.
Số đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã, danh sách các
đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử do Ủy ban bầu
cử ở cấp đó ấn định theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cùng cấp và được công
bố chậm nhất là 80 ngày trước ngày bầu cử.”.
5. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 11 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri. Ở miền núi, hải
đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có đủ ba trăm cử tri cũng
được thành lập một khu vực bỏ phiếu.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Việc xác định khu vực bỏ phiếu do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định và
báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
điều chỉnh việc xác định khu vực bỏ phiếu. Việc xác định khu vực bỏ phiếu được
thực hiện trước khi thành lập Tổ bầu cử.”.
6. Sửa đổi, bổ sung Điều 21và Điều 22 như sau:
“Điều 21. Các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương
1. Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố, Ủy ban bầu cử ở xã, phường, đặc khu (sau đây
gọi chung là Ủy ban bầu cử).
2. Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh,
Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã (sau đây gọi chung là Ban bầu cử).
3. Tổ bầu cử.
Điều 22. Việc thành lập, cơ cấu, thành phần của Ủy ban bầu cử
1. Chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi
thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố
(sau đây gọi chung là Ủy ban bầu cử ở tỉnh) để thực hiện công tác bầu cử đại
biểu Quốc hội và tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tại tỉnh,
thành phố.
-- 3 of 14 --
86 CÔNG BÁO/Số 951 + 952/Ngày 21-7-2025
Ủy ban bầu cử ở tỉnh có từ hai mươi ba đến ba mươi bảy thành viên gồm Chủ
tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên là đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội,
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Danh sách Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia,
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi
thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập Ủy ban bầu cử ở xã,
phường, đặc khu (sau đây gọi chung là Ủy ban bầu cử ở xã) để tổ chức bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Ủy ban bầu cử ở xã có từ chín đến mười bảy thành viên. Thành viên Ủy ban
bầu cử ở xã gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên là đại diện
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp xã và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Danh sách Ủy ban bầu cử ở xã phải được gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh,
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.”.
7. Sửa đổi, bổ sungĐiều 24 như sau:
“Điều 24. Ban bầu cử
1. Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi
thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu
Quốc hội một Ban bầu cử đại biểu Quốc hội có từ chín đến mười bảy thành viên
gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các Ủy viên là đại diện Thường
trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
2. Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã
sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban
-- 4 of 14 --
CÔNG BÁO/Số 951 + 952/Ngày 21-7-2025 87
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp mình một Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
gồm đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội. Thành phần Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có thêm đại diện
cử tri ở địa phương.
Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ mười một đến mười lăm
thành viên. Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có từ chín đến mười
lăm thành viên. Ban bầu cử gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các
Ủy viên.
3. Ban bầu cử có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử của các Tổ bầu cử thuộc
đơn vị bầu cử;
b) Kiểm tra, đôn đốc việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc niêm yết danh
sách những người ứng cử ở các Tổ bầu cử thuộc đơn vị bầu cử;
c) Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu và công việc bầu
cử ở các phòng bỏ phiếu;
d) Nhận và phân phối tài liệu, phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử chậm nhất là 13
ngày trước ngày bầu cử;
đ) Nhận, tổng hợp và kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử của các Tổ
bầu cử; lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử của các
Tổ bầu cử và khiếu nại, tố cáo về bầu cử do các Tổ bầu cử chuyển đến; nhận và
chuyển đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Quốc
hội; nhận và chuyển đến Ủy ban bầu cử tương ứng khiếu nại, tố cáo về người ứng
cử đại biểu Hội đồng nhân dân;
g) Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo hướng dẫn, yêu cầu của
Hội đồng bầu cử quốc gia hoặc theo yêu cầu của Ủy ban bầu cử cùng cấp;
h) Chuyển hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh;
chuyển hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ủy ban bầu cử
cùng cấp;
i) Tổ chức thực hiện việc bầu cử thêm, bầu cử lại (nếu có).”.
-- 5 of 14 --
88 CÔNG BÁO/Số 951 + 952/Ngày 21-7-2025
8. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 25 như sau:
“1. Chậm nhất là 43 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi
thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ
bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân
dân các cấp. Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ
trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương.
Đơn vị vũ trang nhân dân được xác định là khu vực bỏ phiếu riêng được thành
lập một Tổ bầu cử có từ năm đến chín thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các
Ủy viên là đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân
dân đó.
Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu
vực bỏ phiếu thì Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội
đồng nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và
chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân quyết định thành lập Tổ bầu cử có từ mười một
đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện
cử tri ở địa phương, đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ
trang nhân dân đó.”.
9. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 31 như sau:
“1. Danh sách cử tri do Ủy ban nhân dân cấp xã lập theo từng khu vực bỏ phiếu.”.
10. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 và bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 36 như sau:
“3. Công dân được nộp hồ sơ ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân tối đa ở
hai cấp trong cùng một nhiệm kỳ; nếu nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ
được nộp hồ sơ ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân ở một cấp.
4. Sau khi hết thời hạn nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh mà người đã ứng cử chuyển công tác từ đơn vị hành chính này
sang đơn vị hành chính khác thì việc chuyển hồ sơ ứng cử được thực hiện theo
hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia.”.
-- 6 of 14 --
CÔNG BÁO/Số 951 + 952/Ngày 21-7-2025 89
11. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 41 như sau:
“2. Ở cơ quan nhà nước, ban lãnh đạo cơ quan dự kiến người của cơ quan
mình để giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của hội
nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của hội nghị cử tri, ban lãnh
đạo cơ quan tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo cơ quan, đại diện lãnh đạo các đơn
vị trực thuộc để thảo luận, giới thiệu người của cơ quan mình ứng cử đại biểu
Quốc hội;”.
12. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 42 như sau:
“2. Ban lãnh đạo đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế phối hợp với ban chấp hành
công đoàn tổ chức, đơn vị (nếu có); ban lãnh đạo cơ quan nhà nướcdự kiến người
của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình để giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức
lấy ý kiến nhận xét của hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của
hội nghị cử tri, ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức hội nghị gồm lãnh
đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, đại diện ban chấp hành công đoàn (nếu có), đại diện
lãnh đạo các đơn vị trực thuộc để thảo luận, giới thiệu người của cơ quan, tổ chức,
đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội;”.
13. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 45 như sau:
“1. Hội nghị cử tri ở xã, phường, đặc khu được tổ chức tại thôn, tổ dân phố nơi
người ứng cử đại biểu Quốc hội cư trú thường xuyên do Ban thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp triệu
tập và chủ trì.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị đã giới
thiệu người ứng cử được mời tham dự hội nghị này.
2. Hội nghị cử tri ở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội do ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức triệu tập và chủ trì; hội nghị
cử tri ở đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế do người đứng đầu tổ chức, đơn vị phối
hợp với ban chấp hành công đoàn tổ chức, đơn vị (nếu có) triệu tập và chủ trì; hội
nghị cử tri ở đơn vị vũ trang nhân dân là hội nghị quân nhân do lãnh đạo, chỉ huy
đơn vị triệu tập và chủ trì.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội được mời tham dự hội nghị này.”.
-- 7 of 14 --
90 CÔNG BÁO/Số 951 + 952/Ngày 21-7-2025
14. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 50 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở cấp tỉnh thỏa thuận về cơ cấu, thành
phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân,
cơ quan nhà nước cùng cấp và của đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, các đơn vị
hành chính cấp dưới trên địa bàn.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Biên bản hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham
dự, diễn biến, kết quả hội nghị.
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh được gửi ngay đến Hội đồng bầu cử
quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp xã được gửi ngay đến Thường trực Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.”.
15.Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 52 như sau:
“2. Ban lãnh đạo đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế phối hợp với ban chấp hành
công đoàn tổ chức, đơn vị (nếu có); ban lãnh đạo cơ quan nhà nước dự kiến người
của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình để giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân
dân, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ
sở ý kiến của hội nghị cử tri, ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức hội
nghị gồm lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, đại diện ban chấp hành công đoàn
(nếu có), đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc để thảo luận, giới thiệu người của
cơ quan, tổ chức, đơn vị mình ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;”.
16. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 53 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở mỗi cấp do Ban thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử.
Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ hai thực hiện theo quy định tại khoản 1
Điều 50. của Luật này.”;
-- 8 of 14 --
CÔNG BÁO/Số 951 + 952/Ngày 21-7-2025 91
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Biên bản hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham
dự, diễn biến, kết quả hội nghị.
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh được gửi ngay đến Hội đồng bầu cử
quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp xã được gửi ngay đến Thường trực Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.”.
17. Sửa đổi, bổ sung khoản 1và khoản 2 Điều 54 như sau:
“1. Hội nghị cử tri ở xã, phường, đặc khu được tổ chức tại thôn, tổ dân phố do
Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban nhân dân
cùng cấp triệu tập và chủ trì.
2. Hội nghị cử tri ở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội do người đứng đầu cơ quan, tổ chức triệu tập và chủ trì; hội
nghị cử tri ở tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp do người đứng đầu tổ chức, đơn vị
phối hợp với ban chấp hành công đoàn tổ chức, đơn vị (nếu có) triệu tập và chủ trì.
Hội nghị cử tri ở đơn vị vũ trang nhân dân là hội nghị quân nhân do lãnh đạo, chỉ
huy đơn vị triệu tập và chủ trì.”.
18. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 56 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở mỗi cấp do Ban thường trực Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 23 ngày trước ngày bầu cử.
Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ ba thực hiện theo quy định tại khoản 1
Điều 50. của Luật này.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba phải ghi rõ thành phần, số lượng
người tham dự, diễn biến và kết quả hội nghị.
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh được gửi ngay đến Hội đồng bầu cử
quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.
-- 9 of 14 --
92 CÔNG BÁO/Số 951 + 952/Ngày 21-7-2025
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp xã được gửi ngay đến Thường trực Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.”.
19. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 58 như sau:
“1. Chậm nhất là 21 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh phải gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và
danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Hội
đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử
cùng cấp; Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phải gửi
biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn
ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.
2. Chậm nhất là 17 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử phải lập và công bố
danh sách chính thức những người ứng cử đại bi