CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcHNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thành phố
- Về nợ: Theo ông P khai không có.
2
Ngoài ra, ông P không còn ý kiến, yêu cầu nào khác và có đơn đề nghị Tòa
án tiến hành tố tụng, xét xử vắng mặt.
[2] Bị đơn bà Trinh Diep Ngoc T có bản tự khai trình bày: Vợ chồng
chung sống có làm đăng ký kết hôn. Do ở xa ít gặp nhau, đồng thời không cùng
quan điểm dẫn đến không hợp nhau ở nhiều phương diện. Nay bà T đồng ý ly
hôn với ông P.
- Về con chung: Theo bà T khai không có.
- Về tài sản chung: Theo bà T khai không có.
- Về nợ: Theo bà T khai không có.
Ngoài ra, bà T không còn ý kiến, yêu cầu nào khác và có đơn đề nghị Tòa
án tiến hành tố tụng, xét xử vắng mặt.
[3] Do các đương sự có đơn đề nghị Tòa án tiến hành tố tụng, xét xử vắng
mặt; nên Tòa án không thể tiến hành phiên hòa giải mà Quyết định đưa vụ án ra
xét xử.
[4] Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông P có đơn đề nghị Tòa án tiến hành tố tụng, xét xử vắng
mặt.
- Bị đơn bà T có đơn đề nghị Tòa án tiến hành tố tụng, xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Xét đơn khởi kiện tranh chấp “Ly hôn” của nguyên đơn ông P với bị
đơn bà T, do nguyên đơn ông P cư trú tại địa bàn do Tòa án nhân dân khu vực 4
– Thành phố Hồ Chí Minh được phân cấp quản lý, nên vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy
định tại khoản 4 Điều 35; điểm đ khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; Điều 1, 5 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6
năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.